TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI Bản án số: 183/2023/HSST. Ngày 22/12/2023. | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Thanh.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Ngân.
Bà Vũ Thị Hòa.
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Anh Tùng – Thư ký, Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Cường – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, mở phiên toà công khai, xét xử sơ thẩm, vụ án hình sự thụ lý số: 172/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 163/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Phạm Ngọc Duy T - Sinh ngày 10/5/1994, tại thành phố L, tỉnh Lào Cai; Giới tính: Nam. Nơi thường trú và nơi ở: Tổ D, phường P, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Phạm Quang V – Sinh năm 1961 và bà: Đinh Thị M - Sinh năm 1962. Bị cáo có vợ là Hà Thị T1 - Sinh năm 1998 và có 01 con sinh năm 2018. Tiền sự: không; Tiền án: Tại bản án hình sự số 102/2019/HS-ST ngày 22/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, xử phạt Phạm Ngọc Duy T 03 năm 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Ngày 23/8/2022, Phạm Ngọc D T chấp hành xong hình phạt tù, đến nay chưa được xóa án tích. Nhân thân: Xấu. Bị cáo Phạm Ngọc Duy T bị bắt tạm giữ từ ngày 17/8/2023. Hiện bị cáo Phạm Ngọc Duy T đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai, (Có mặt).
2. Họ và tên: Nguyễn Văn D1 - Sinh ngày 25/11/1994, tại thành phố L, tỉnh Lào Cai; Giới tính: Nam. Nơi thường trú: Thôn Đ, xã C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Nơi ở: Tổ F, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Nguyễn Mạnh Q - Sinh năm 1970 và bà: Nguyễn Thị H - Sinh năm 1972. Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Bản án hình sự số 101/2019/HS-ST ngày 19/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai đã xử phạt Nguyễn Văn D1 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Ngày 05/02/2021, Nguyễn Văn D1 đã chấp hành xong hình phạt tù và chấp hành xong khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm. Tính đến thời điểm phạm tội, bị cáo Nguyễn Văn D1 đã được xóa án tích. Bị cáo Nguyễn Văn D1 bị bắt tạm giữ từ ngày 17/8/2023. Hiện bị cáo Nguyễn Văn D1 đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai, (Có mặt).
Người làm chứng: Ông Lê Thế L (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng giữa tháng 6/2023, Phạm Ngọc D T quen biết một người phụ nữ tên H1, là người nghiện ma túy nên khi H1 nói chuyện với Phạm Ngọc Duy T khi nào cần nhờ việc giao ma túy sẽ có người liên hệ, Phạm Ngọc D T đồng ý và cho người phụ nữ này số điện thoại của mình. Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 16/8/2023, Phạm Ngọc Duy T đang ngồi uống nước ở khu vực sân bóng thuộc tổ D, phường P, thành phố L thì có một người đàn ông đến gặp Phạm Ngọc Duy T và tự xưng tên là H2, người này hỏi Phạm Ngọc Duy T có biết người phụ nữ tên H1 không và có đi giao ma túy cho H1 không, khi giao xong sẽ được trả 700.000VNĐ tiền công, Phạm Ngọc Duy T trả lời có biết người phụ nữ tên H1 và đồng ý đi giao ma túy cho H1. Người đàn ông tên H2 nói với Phạm Ngọc Duy T đến 21 giờ cùng ngày đi lên siêu thị A M1 sẽ có gói ma túy được để trong một phong bì thư giấu ở trước chậu cây cảnh siêu thị và bảo Phạm Ngọc D T cầm phong bì này đi lên cuối đường L thuộc tổ F, phường C, thành phố L giấu gói ma túy này ở gần cột điện sẽ có người đến lấy, Phạm Ngọc D T đồng ý.
Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, Phạm Ngọc D T rủ Nguyễn Văn D1 đi lên khu vực trung tâm thành phố L chơi, Nguyễn Văn D1 đồng ý và cầm theo 01 gói nilon (Bên trong có 03 gói nilon chứa ma túy Methamphetamine) của Nguyễn Văn D1 mua từ trước mang theo để sử dụng. Phạm Ngọc D T thuê anh Lê Thế L là lái xe taxi ô tô biển kiểm soát 24A – 133.64 đến đón Phạm Ngọc Duy T và Nguyễn Văn D1. Khi Lê Thế L chở Phạm Ngọc Duy T và Nguyễn Văn D1 đến siêu thị A1, Phạm Ngọc D T bảo Lê Thế L đỗ xe ở bên ngoài, Phạm Ngọc Duy T mở cửa xe đi bộ một mình vào bên trong siêu thị A1 và tìm thấy phong bì thư chứa ma túy ở dưới gốc cây cảnh, Phạm Ngọc Duy T mở ra kiểm tra thì thấy bên trong có 01 túi nilon đựng ma túy đá và 30 viên ma túy (Hồng phiến), Phạm Ngọc D T lấy 03 viên ma túy ra cất vào túi quần bên phải mục đích chờ người đến nhận ma túy và thanh toán xong thì Phạm Ngọc Duy T sẽ đưa nốt 03 viên ma túy này cho khách. Số ma túy còn lại, Phạm Ngọc D T cất vào phong bì thư và cho vào vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long rồi đi bộ ra xe taxi. Khi lên xe, Phạm Ngọc D T bảo Lê Thế L điều khiển xe đi đến ngã ba giao nhau giữa đường L - T và Nguyễn Đức C thì dừng lại cách cột điện ven đường khoảng 10 mét thuộc tổ F, phường C, thành phố L, Phạm Ngọc D T xuống xe ô tô đi lại gần cột điện và để bao thuốc Thăng Long, bên trong chứa ma túy ở chân cột điện rồi lên xe taxi ngồi hàng ghế sau bên lái chờ người đến lấy ma túy. Đến khoảng 21 giờ 10 phút cùng ngày, khi Phạm Ngọc Duy T đang ngồi trên xe ô tô taxi thì bị tổ công tác của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố L phát hiện và tiến hành kiểm tra. Lúc này, Nguyễn Văn D1 đang ngồi ở hàng ghế sau bên phụ của xe ô tô đã khai nhận đang tàng trữ trái phép chất ma túy và tự giác lấy từ trong túi quần bên trái đang mặc 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 03 túi nilon đều chứa các hạt tinh thể màu trắng, Nguyễn Văn D1 khai nhận là ma túy. Phạm Ngọc Duy T cũng khai nhận khi tổ công tác đang kiểm tra Nguyễn Văn D1 thì đã ném 03 viên ma túy hồng phiến xuống sàn xe ô tô và dẫn tổ công tác đến cột điện ven đường cách vị trí đỗ xe ô tô khoảng 10 mét giao nộp 01 vỏ bao thuốc lá T, bên trong có 01 túi nilon màu trắng chứa các hạt tinh thể rắn, màu trắng và 01 túi nilon, bên trong có 27 viên nén hình tròn, màu hồng, trên mỗi mặt của các viên nén đều được dập chìm chữ “WY”, Phạm Ngọc D T khai nhận đều là ma túy. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn D1 và Phạm Ngọc Duy T và thu giữ toàn bộ vật chứng. Ngoài ra còn tạm giữ của Nguyễn Văn D1 01 điện thoại Iphone 6, tạm giữ của Phạm Ngọc D Thanh 01 điện thoại Iphone 6S, tạm giữ của Lê Thế L 01 điện thoại Iphone, 01 xe ô tô biển kiểm soát 24A – 133.64.
Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu, tái niêm phong và giao nhận đối tượng giám định ngày 17/8/2023 giữa Phòng K Công an tỉnh L và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã xác định:
- Bì 1 (được ký hiệu là Mẫu M1 đến M3): Thu giữ của Nguyễn Văn D1: 01 túi nilon màu trắng, bên trong túi có 03 túi nilon màu trắng, mỗi túi đều chứa các hạt tinh thể rắn, màu trắng có tổng khối lượng là 0,16 gam, trích mẫu 0,07 gam để tiến hành giám định, còn lại 0,09 gam hoàn trả cơ quan trưng cầu.
- Bì 2 (được ký hiệu là Mẫu M4 đến M14): Thu giữ của Phạm Ngọc Duy T: 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, bên trong vỏ bao thuốc lá này có 01 bì thư do bưu điện phát hành, bên trong bì thư gồm có:
+ M4: 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa các hạt tinh thể rắn, màu trắng có khối lượng là 0,41 gam, trích mẫu 0,05 gam tiến hành giám định, còn lại 0,36 gam hoàn trả cơ quan trưng cầu.
+ M5 – M14: 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 27 viên nén hình tròn, màu hồng có đặc điểm giống nhau, trên một mặt mỗi viên đều được dập chìm chữ “WY” có tổng khối lượng là 2,76 gam, trích mẫu 0,66 gam để tiến hành giám định, còn lại 2,1 gam hoàn trả cơ quan trưng cầu.
- Bì 3 (được ký hiệu là Mẫu M15 đến M17): Thu giữ của Phạm Ngọc Duy T: 03 viên nén hình tròn, màu hồng có đặc điểm giống nhau, trên một mặt mỗi viên đều được dập chìm chữ “WY” có tổng khối lượng là 0,3 gam, trích mẫu 0,1 gam để tiến hành giám định, còn lại 0,2 gam hoàn trả cơ quan trưng cầu.
Tại kết luận giám định về ma túy số 274/KL-GĐMT ngày 25/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh L đã kết luận:
+ Mẫu M1 – M3: 0,16 gam các hạt tinh thể rắn màu trắng;
+ Mẫu M4: 0,41 gam các hạt tinh thể rắn màu trắng;
+ Mẫu M5 – M14: 27 viên nén hình tròn, màu hồng có đặc điểm giống nhau, trên một mặt mỗi viên đều được dập chìm chữ “WY”.
+ Mẫu M15 – M17: 03 viên nén hình tròn, màu hồng có đặc điểm giống nhau, trên một mặt mỗi viên đều được dập chìm chữ “WY”.
Tất cả các mẫu từ M1 – M17 gửi giám định đều là loại chất ma túy Methamphetamine.
Cáo trạng số: 168/CT-VKS ngày 16/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, truy tố Nguyễn Văn D1 về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự. Truy tố bị cáo Phạm Ngọc Duy T về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1, Điều 250 Bộ luật hình sự.
Lời khai nhận của các bị cáo Phạm Ngọc Duy T và Nguyễn Văn D1 tại phiên toà phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ quyền công tố luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D1 phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; Điều 38; điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D1 từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc Duy T phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 250; Điều 38; điểm s, khoản 1, 2 Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Ngọc Duy T từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Ngoài ra còn đề nghị tuyên án phí hình sự sơ thẩm; xử lý vật chứng và quyền kháng cáo cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa các bị cáo Phạm Ngọc Duy T và Nguyễn Văn D1 không có ý kiến tranh luận với nội dung bản luận tội của Kiểm sát viên. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử; Kiểm sát viên thực hiện quyền công tố; Thư ký phiên tòa, đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng; người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Ngày 16 tháng 8 năm 2023, bị cáo Phạm Ngọc Duy T có hành vi vận chuyển trái phép 3,47 gam Methamphetamine từ siêu thị Anh M1 lên cuối đường L thuộc tổ F, phường C, thành phố L giao cho người nhận với mục đích để lấy tiền công là 700.000VNĐ thì bị phát hiện bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng. Cùng ngày 16 tháng 8 năm 2023, khi khám xét phát hiện bị cáo Nguyễn Văn D1, có hành vi mua 0,16 gam chất ma túy Methamphetamine, cất dấu trên người để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng.
Hành vi của bị cáo Phạm Ngọc Duy T đã phạm vào tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn D1 đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, truy tố bị cáo Phạm Ngọc D Thanh theo quy định tại điểm c khoản 1, Điều 250 Bộ luật hình sự và truy tố bị cáo Nguyễn Văn D1 theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Trong vụ án này, quá trình thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo Phạm Ngọc Duy T và Nguyễn Văn D1 không trao đổi, bàn bạc với nhau về việc vận chuyển trái phép chất ma túy và việc tàng trữ trái phép chất ma túy, nên hành vi của các bị cáo là độc lập, không đồng phạm với nhau trong vụ án.
Hành vi phạm tội của các bị cáo Phạm Ngọc Duy T và Nguyễn Văn D1 là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý các chất ma túy của nhà nước, gây mất trật tự trị an, làm gia tăng tệ nạn về ma tuý trên địa bàn thành phố L, tỉnh Lào Cai. Các bị cáo Phạm Ngọc Duy T và Nguyễn Văn D1 đều là đối tượng sử dụng chất ma túy, các bị cáo nhận biết rõ Heroine là chất ma túy mà pháp luật nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, mua bán, sử dụng, vận chuyển v.v. Nhưng vì nghiện chất ma túy và muốn có tiền để chi tiêu, các bị cáo đã không có ý thức chấp hành pháp luật. Vì vậy, đối với các bị cáo cần phải có một mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để tiếp tục cải tạo, giáo dục riêng đối với từng bị cáo, đồng thời góp phần phòng ngừa chung.
Trong vụ án này đối với Phạm Ngọc Duy T, tại bản án hình sự số 102/2019/HS-ST ngày 22/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai đã xử phạt Phạm Ngọc Duy T 03 năm 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 23/8/2022, Phạm Ngọc D T chấp hành xong hình phạt tù. Tính đến thời điểm phạm tội bị cáo Phạm Ngọc Duy T chưa được xóa án tích, nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm” theo quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo Phạm Ngọc Duy T và Nguyễn Văn D1 đã thật thà khai báo. Ngoài ra bị cáo Phạm Ngọc Duy T có mẹ đẻ là bà Đinh Thị M được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh L tặng Bằng khen trong sự nghiệp giáo dục. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xem xét khi lượng hình đối với các bị cáo, theo quy định tại điểm s, khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Trong vụ án này còn có một số đối tượng: Đối với người phụ nữ tên H1 và người đàn ông tên H2 thuê Phạm Ngọc Duy T vận chuyển ma túy vào ngày 16/8/2023. Do Phạm Ngọc D T không biết đầy đủ họ tên và địa chỉ của những người này nên Cơ quan điều tra không xác định được nhân thân lai lịch, nên không đề cập xử lý.
Về nguồn gốc số chất ma túy Methamphetamine bị cáo Nguyễn Văn D1 tàng trữ. Theo lời khai của bị cáo Nguyễn Văn D1 đã mua 0,16 gam ma túy là chất Methamphetamine của người tại khu vực giao nhau giữa đường B và quốc lộ D thuộc tổ B, phường P, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Ngoài lời khai của bị cáo Nguyễn Văn D1 không còn tài liệu nào khác chứng minh. Vì vậy, không đủ căn cứ để xử lý đối với đối tượng bán chất ma túy cho bị cáo Nguyễn Văn D1 trong vụ án này.
[3] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy, đối với các bị cáo Phạm Ngọc Duy T và Nguyễn Văn D1, đều là đối tượng sử dụng chất ma túy, không có tài sản riêng. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5, Điều 249 và khoản 5, Điều 250 Bộ Luật hình sự.
[4] Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ trên người Nguyễn Văn D1 03 túi nilon nhỏ màu trắng chất ma túy Methamphetamine có khối lượng 0,16 gam và 01 điện thoại Iphone 6. Thu giữ của Phạm Ngọc Duy T 3,47 gam Methamphetamine và 01 điện thoại Iphone 6S. Thu giữ của anh Lê Thế L 01 điện thoại Iphone, 01 xe ô tô biển kiểm soát 24A – 133.64.
Đối với số vật chứng là chất ma túy thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn D1 ngày 16/8/2023 là 0,16 gam chất ma túy Methamphetamine. Cơ quan giám định đã trích mẫu 0,07 gam để tiến hành giám định, còn lại 0,09 gam được tái niêm phong. Số vật chứng là chất ma túy thu giữ của bị cáo Phạm Ngọc D Thanh ngày 16/8/2023 là 3,47 gam chất ma túy Methamphetamine. Cơ quan giám định đã trích mẫu 0,81 gam để tiến hành giám định, còn lại 2,66 gam được tái niêm phong. Đây là chất ma tuý nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, nên tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 điện thoại Iphone 6 thu giữ của Nguyễn Văn D1. 01 điện thoại Iphone 6S thu giữ của Phạm Ngọc Duy T. Đây là tài sản của các bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội. Tuy nhiên, cần tiếp tục tạm giữ của các bị cáo để đảm bảo việc thi hành án khoản tiền án phí.
Đối với 01 xe ô tô biển kiểm soát 24A – 133.64 và 01 điện thoại Iphone đã thu giữ của Lê Thế L. Cơ quan điều tra đã chứng minh làm rõ là tài sản của anh Lê Thế L và không liên quan đến vụ án, nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho Lê Thế L, nên không đề cập xử lý trong vụ án này.
[5] Về án phí: Các bị cáo Phạm Ngọc Duy T và Nguyễn Văn D1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c, khoản 1, Điều 250; Điều 38; điểm s, khoản 1, 2 Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc Duy T phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc Duy T 04 (Bốn) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 17/8/2023.
Căn cứ vào điểm c, khoản 1, Điều 249; Điều 38; điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D1 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 17/8/2023.
Về vật chứng của vụ án: Căn cứ vào điểm c, khoản 1, Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu của bị cáo Nguyễn Văn D1 0,09 (Không phẩy không chín) gam chất ma túy Methamphetamine, còn lại sau giám định được đựng trong bì thư, tái niêm phong ngày 17/8/2023 để tiêu huỷ.
Tịch thu của bị cáo Phạm Ngọc Duy T 2,66 (Hai phẩy sáu mươi sáu) gam chất ma túy Methamphetamine, còn lại sau giám định được đựng trong bì thư, tái niêm phong ngày 17/8/2023 để tiêu huỷ.
Tạm giữ của bị cáo Nguyễn Văn D1 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 mầu vàng, số Imel 355404070590778, đã qua sử dụng, có kèm 01 sim điện thoại và tạm giữ của bị cáo Phạm Ngọc D Thanh 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, số Imel 355422070845497 đã qua sử dụng, có kèm 01 sim điện thoại, để đảm bảo thi hành án khoản tiền án phí. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/11/2023 của Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai).
Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn D1 và Phạm Ngọc Duy T mỗi bị cáo phải chịu 200.000VNĐ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, điều 7. Điều 7a và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Ngọc Thanh |
Bản án số 183/2023/HSST ngày 22/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI về vụ án hình sự (vận chuyển và tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 183/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Vận chuyển và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGUYEN NGOC DUY T VÀ NGUYEN VAN D
