|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 183/2023/HSST Ngày 21/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Anh Kiệt.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thế Nam;
2. Ông Đinh Văn Thông.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Trực - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 201/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 191/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 12 năm 2023, đối với bị cáo:
Lê Thành Đ, sinh năm 1997 tại Bình Phước; Nơi cư trú: Ấp Đ, xã L, huyện X, Đồng Nai; Nơi ở hiện nay: Khu phố N, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Quốc tịch : Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Con ông Lê Trung T (Đã chết) và bà Trần Thị Lệ P, sinh năm 1970; Vợ, con: Chưa có.
Tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 06/5/2021, bị Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước xử phạt 16 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Theo Bản án số 23/2021/HSST; Chấp hành xong án phạt tù ngày 29/4/2022.
Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L từ ngày 01/9/2023 cho đến nay. (Có mặt)
- Bị hại: Ông Đỗ Văn Q, sinh năm 1976; Địa chỉ: Khu phố N, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
- Người làm chứng: Ông Lê Sơn H, sinh năm 1968; Địa chỉ: Khu phố N, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Thành Đ là đối tượng có tiền án về tội trộm cắp tài sản và không có nghề nghiệp ổn định. Khoảng 08 giờ ngày 31/8/2023, Đ đi nhờ xe của một người lạ mặt đến Khu công nghiệp L và được người này rủ vào quán tạp hóa “Cô T1” thuộc khu phố N, phường S, thành phố L nhậu. Đến khoảng 20 giờ 20 phút cùng ngày, Đ nhậu xong và đi bộ lang thang đến đường số G, thuộc khu phố N, phường S, thành phố L. Khi đi ngang trước cửa hàng vật liệu xây dựng “Bình Minh Bo” do ông Đỗ Văn Q, sinh năm 1976, ngụ tại khu phố E, phường X, thành phố L làm chủ thấy có 04 chiếc xe ô tô tải đang dựng trước sân không có người trông coi nên Đ đã nảy sinh ý định lấy trộm để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Đ leo lên xe ô tô tải, hiệu FORLAND-THACO, trọng tải 05 tấn, màu xanh, biển số 60H-062.84, thấy xe không khóa cửa, trong xe có để sẵn chìa khóa nên Đ điều khiển xe bỏ chạy. Khi đến trước nhà nghỉ "" thuộc khu phố S, phường B, thành phố L thì xe bị hết nhiên liệu không khởi động được nên Đ để lại xe và bỏ đi.
Sau khi phát hiện bị mất tài sản ông Q đến Công an phường S trình báo sự việc. Qua trích xuất C tại cửa hàng V thì nghi vấn Đ chính là người trộm cắp tài sản nên đã mời Đ về trụ sở để làm việc, tại cơ quan Công an Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại kết luận định giá số 100/HĐĐGTSTTTHS ngày 20/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L xác định: 01 xe ô tô tải, hiệu FORLAND-THACO, trọng tải 05 tấn, màu xanh, biển số 60H-062.84, đã qua sử dụng có giá trị 180.000.000 đồng (một trăm, tám mưới triệu đồng).
Tại bản Cáo trạng số 183/CT-VKSLK ngày 23 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh truy tố bị cáo Lê Thành Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo Lê Thành Đ về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị áp dụng điểm c khoản 2, Điều 173, điểm s, khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt: Bị cáo Lê Thành Đ từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường, nên không xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 áo dài tay màu xanh da trời, trên áo có logo màu xanh lá cây của Công ty A, 01 quần tây màu đen, 01 nón bảo hiểm màu xanh lá cây.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Thành Đ thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện:
Vào khoảng 22 giờ ngày 31/8/2023, do cần tiền tiêu xài nên Lê Thành Đ nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, bị cáo đột nhập vào cửa hàng vật liệu xây dựng “Bình Minh B” do ông Đỗ Văn Q làm chủ, thuộc khu phố N, phường S, thành phố L để lấy trộm một chiếc ô tô tải hiệu Forland-Thaco, trọng tải 05 tấn, màu xanh, BKS: 60H-062.84, trị giá 180.000.000đ (Một trăm tám mươi triệu) đồng.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lê Thành Đ phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
-
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm và hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có tiền án nhưng không tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà còn tiếp tục phạm tội mới, thể hiện việc xem thường pháp luật. Vì vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết và có mức án nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm
-
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo thực hiện phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm theo quy định điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.
-
Về xử lý vật chứng:
- + Một áo dài tay màu xanh da trời, trên áo có logo màu xanh lá cây của Công ty A, 01 quần tây màu đen, 01 nón bảo hiểm màu xanh lá cây; bị cáo mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.
- Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh phù hợp phần nhiều với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
-
Tuyên bố: Bị cáo Lê Thành Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Thành Đ 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/9/2023.
-
Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; điểm c khoản 2 Điều 106 - Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:
Tịch thu, tiêu hủy 01 (Một) áo dài tay màu xanh da trời, trên áo có logo màu xanh lá cây của Công ty A, 01 (Một) quần tây màu đen, 01 (Một) nón bảo hiểm màu xanh lá cây (Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai).
- Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Anh Kiệt |
Bản án số 183/2023/HSST ngày 21/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 183/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
