Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 183/2024/HS-ST

Ngày 21-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương.

Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Phan Văn Cường;

2. Bà Nguyễn Thị Thu Vân.

Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Huyền, Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 133/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 177/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Phạm Quang Minh Đ, sinh năm 1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: 2 đường số F, khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Q, sinh năm 1954 và bà Lê Thị Kim N, sinh năm 1955 (đã chết); bị cáo có 04 anh chị em ruột, lớn nhất không rõ năm sinh, nhỏ nhất sinh năm 1995; bị cáo chưa có vợ con.

- Tiền án: Ngày 13/9/2013 bị Toà án nhân dân Quận 9 (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 135/2013/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2017, đóng án phí hình sự và dân sự ngày 06/5/2014, chưa chấp hành xong phần trách nhiệm dân sự bồi thường cho chị Nguyễn Thụy T An số tiền 1.961.000 đồng.

- Tiền sự: Ngày 26/01/2022, bị Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 19 tháng, theo Quyết định số 40/2022/QĐ-TA (đã chấp hành xong ngày 28/6/2023).

- Nhân thân:

  • + Ngày 13/8/2010, bị Ủy ban nhân dân quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định số 4181/QĐ-UBND áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng về hành vi trộm cắp tài sản (nhưng bị bắt tạm giam để khởi tố vụ án).
  • + Ngày 28/10/2010, bị Toà án nhân dân Quận 9 (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 113/2010/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/01/2011.
  • + Ngày 28/6/2011, bị Toà án nhân dân Quận 9 (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 88/2011/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/10/2011.
  • + Ngày 26/12/2018, bị Toà án nhân dân Quận Thủ Đức (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 351/2018/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/3/2021.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/8/2023 cho đến nay; (Có mặt).

2. Hoàng Thị T1, sinh năm 1996 tại tỉnh Thanh Hoá; thường trú: Tổ dân phố H, thị trấn P, huyện C, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: lớp 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn P, sinh năm không rõ và bà Trần Thị S, sinh năm không rõ; bị cáo có 03 anh chị em ruột (lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 2000), chồng tên Phạm Văn Đ1, sinh năm 1990, bị cáo có 01 con ruột sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 05/5/2011 bị Ủy ban nhân dân thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường G về hành vi Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thời hạn 12 tháng theo Quyết định số 2882/QĐ-UB (đã chấp hành xong ngày 23/4/2012).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/8/2023 cho đến nay; (Có mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • Ông Trần Văn T2, sinh năm 1976 – Chủ hộ kinh doanh Nhà nghỉ H3; địa chỉ: Ấp L, xã P, huyện V, tỉnh Đồng Nai; (Vắng mặt).
  • Ông Trần Tuấn A, sinh năm 1965; địa chỉ: thôn T, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; (Vắng mặt).

- Người làm chứng:

  • Ông Lý Hoài T3, sinh năm 1995; địa chỉ: số G khu phố L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).
  • Ông Nguyễn Văn S1, sinh năm 1996; địa chỉ: khu phố B, phường A, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị; (Vắng mặt).
  • Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1996; địa chỉ: tổ G, ấp B, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; (Vắng mặt).
  • Ông Nguyễn Văn Đ2, sinh năm 1969; địa chỉ: số A N, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).
  • Ông Nguyễn Hữu H1, sinh năm 1956; địa chỉ: số E tổ E, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).

- Người chứng kiến: Ông Trần Minh T4, sinh năm 1991; địa chỉ: số C, khu phố T, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương; (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 06/8/2023, Phạm Quang Minh Đ điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo SX, biển số 78H1-19319, số máy: E3R7E019833, số khung RLCSE9210FY019858, chở phía sau là Hoàng Thị T1 (bạn gái của Đ) đến chợ đầu mối T để ăn tối thì gặp một người thanh niên tên H2 (không rõ nhân thân, lai lịch) quen biết với Đ ở ngoài xã hội khoảng 03 năm. Tại đây, Đ được H2 cho 01 túi nylon miệng kéo dính chứa ma túy đá thì T1 ngồi kế bên Đ nhìn thấy và biết việc H2 cho Đ ma tuý. Đồng thời, H2 cho Đ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm: 01 nỏ thủy tinh có sẵn ma túy đá, 01 ống hút nhựa và 01 vỏ chai nhựa. Sau khi được cho ma tuý, Đ cất giấu túi ma túy đá trong túi quần bên trái đang mặc, bộ dụng cụ sử dụng ma túy thì Đ để trong túi đeo chéo màu đen của Đ đang mang. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô biển số 78H1- 193.19 chở T1 đến nhà của Lý Hoài T3 để hỏi mượn tiền nhưng không có. Đến khoảng 08 giờ 00 phút ngày 07/8/2023, Đ chở T1 đến nhà nghỉ “Hải Triều” tại khu phố Q, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương để thuê phòng nghỉ ngơi. Đ vào quầy lễ tân gặp anh Nguyễn Văn Đ2 là nhân viên quản lý tại nhà nghỉ “Hải Triều”. Đ hỏi thuê phòng theo giờ thì anh Đ2 đưa chìa khoá phòng số 3 cho Đ và không yêu cầu xuất trình giấy tờ tuỳ thân. T1 và Đ đi vào phòng số 3 và nằm ngủ. Đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, Đ lấy bộ dụng cụ ma tuý cất giấu vào trong 01 túi nylon màu đỏ rồi để ở góc bàn, riêng túi nylon có chứa ma túy Đ đưa cho T1 cất giữ. T1 lấy túi nylon chứa ma tuý cất giấu vào trong ngăn bàn. Còn Đ điều khiển xe mô tô biển số 78H1-193.19, đi đến chỗ T3 rồi chở T3 đi đến chỗ mượn tiền nhưng không mượn được, nên Đ chở T3 về lại phòng khách sạn đang thuê. Tại phòng khách sạn, Đ lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đã có sẵn ma túy trong nỏ thủy tinh rồi dùng quẹt gas đốt lên để Đ và T3 cùng sử dụng, mỗi người hít vài hơi thì nghỉ. Một lúc sau, Đ tiếp tục điều khiển xe mô tô biển số 78H1-193.19 chở T3 đi mượn tiền nhưng không được nên vào khu làng Đ để uống nước thì gặp Nguyễn Văn S1 và Nguyễn Văn H cũng đang ngồi uống nước. Trong lúc ngồi uống nước, S1 và H hỏi Đ có chỗ ngủ không thì Đ trả lời là có. Sau đó, Đ chở T3, còn S1 và H đi theo để cùng về khách sạn “Hải Triều”. Tại phòng, Đ nói T1 đưa túi ma túy đá mà Đ gửi trước đó để Đ cất giữ, đồng thời Đ lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy vẫn còn ma túy bên trong ra rồi lần lượt Đ, T3, S1 và H lần lượt đốt ma tuý sử dụng cho đến khi hết ma tuý trong nỏ. Trong lúc mọi người sử dụng ma tuý thì T1 nằm trên giường sử dụng điện thoại.

Khoảng 19 giờ 30 phút, khi vừa sử dụng hết ma tuý có trong nỏ thì Đ nghe ai đó gọi kiểm tra giấy tờ. Đ lấy túi ma túy trước đó cất giấu dưới tấm nệm giường chỗ T1 đang nằm, còn S1 lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá giấu trong thùng rác nhà vệ sinh. Sỹ ra mở cửa thì có lực lượng Công an phường B đến kiểm tra hành chính. Do quá trình kiểm tra phát hiện các đối tượng Đ, T1, T3, S1 và H có biểu hiện đang sử dụng ma tuý. Do phát hiện có dấu vết tội phạm trong phòng nên Công an phường B thông báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D ra lệnh khám xét khẩn cấp phòng số 3, nhà nghỉ “Hải Triều” do Phạm Quang Minh Đ thuê ở. Quá trình khám xét phát hiện, trong thùng rác trong nhà vệ sinh có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, đồng thời phát hiện dưới tấm nệm giường chỗ T1 đang ngồi có 01 túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng, Đ và T1 khai nhận là ma túy đá. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành thu giữ, niêm phong vật chứng và ra lệnh bắt khẩn cấp, quyết định tạm giữ đối với Phạm Quang Minh Đ và Hoàng Thị T1 để tiếp tục điều tra xử lý theo quy định.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • - 01 (một) túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng (M=2,7284 gam);
  • - 01 bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma tuý gồm 01 chai nhựa, 01 nỏ thuỷ tinh và 01 đoạn ống hút nhựa.
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Nouvo SX, màu sơn xanh bạc, biển số 78H1-19319, số máy: E3R7E019833, số khung RLCSE9210FY019858, dung tích xi lanh 124 cm³.

Tại bản Kết luận giám định số 483/KL-KTHS (MT) ngày 15/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma tuý loại Methamphetamine, có khối lượng 2,7284 gam.

Tại Cáo trạng số: 154/CT-VKS ngày 15 tháng 4 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Phạm Quang Minh Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Hoàng Thị T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Phạm Quang Minh Đ mức án từ 02 (hai) năm tù đến 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • - Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Phạm Quang Minh Đ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • - Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt: Buộc bị cáo Phạm Quang Minh Đ phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội từ 09 (chín) năm đến 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù.
  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Hoàng Thị T1 với mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với bì thư đã niêm phong ghi số 483/PC09 là mẫu vật hoàn lại sau giám định bên trong chứa 2,6711 gam ma túy loại Methamphetamine là mẫu vật hoàn lại sau giám định đề nghị tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma tuý gồm 01 chai nhựa, 01 nỏ thuỷ tinh và 01 đoạn ống hút nhựa, là công cụ Đ sử dụng để tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, không còn giá trị sử dụng đề nghị tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Nouvo SX, màu sơn xanh bạc, biển số 78H1-19319, số máy: E3R7E019833, số khung RLCSE9210FY019858, dung tích xi lanh 124 cm³, là xe Đ mua lại của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) để làm phương tiện đi lại. Quá trình điều tra xác định người đăng ký sở hữu là ông Trần Tuấn A, sinh năm 1965; địa chỉ: Thôn T, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Qua làm việc, ông Tuấn A đã bán xe trên cho 01 người không rõ nhân thân lai lịch, không có làm hợp đồng mua bán. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu theo quy định nhưng đến nay vẫn chưa có ai đến nhận nên đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định.
  • - Đối với Lý Hoài T3, Nguyễn Văn S1 và Nguyễn Văn H có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý cùng với Phạm Quang Minh Đ vào ngày 07/8/2023 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” đối với Lý Hoài T3, Nguyễn Văn S1 và Nguyễn Văn H, phạt tiền mỗi người số tiền là 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm ngàn đồng) theo quy định tại khoản 1 Điều 23 của Nghị định 144/2021/NĐ-CP.
  • - Đối với người tên H2 cho ma túy Phạm Quang Minh Đ hiện chưa xác minh, làm rõ được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố D tiếp tục điều tra, xử lý sau.

Các bị cáo không tranh luận, trong lời nói sau cùng, bị cáo Phạm Quang Minh Đ và Hoàng Thị T1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Quang Minh Đ và Hoàng Thị T1 đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã truy tố đối với các bị cáo. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và những tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

[2.1] Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 07/8/2023, tại phòng số 3, nhà nghỉ “Hải Triều” thuộc khu phố Q, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Phạm Quang Minh Đ và Hoàng Thị T1 đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 2,7284 gam. Như vậy, hành vi của Phạm Quang Minh Đ và Hoàng Thị T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[2.2] Chiều ngày 07/8/2023, tại phòng số 3, nhà nghỉ “Hải Triều” thuộc khu phố Q, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Phạm Quang Minh Đ có hành vi sử dụng địa điểm mà Đ thuê, cung cấp ma túy, dụng cụ và nấu ma túy cho Lý Hoài T3 sử dụng. Ngoài ra, tại địa điểm trên Phạm Quang Minh Đ tiếp tục sử dụng địa điểm, cung cấp ma túy, dụng cụ để Nguyễn Văn S1, Nguyễn Văn H và Lý Hoài T3 cùng sử dụng ma túy.

Hành vi của các bị cáo Đ cung cấp ma túy, địa điểm, dụng cụ để các đối tượng khác thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “phạm tội hai lần trở lên và đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

[2.3] Như vậy, Cáo trạng số: 154/CT-VKS-DS ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và kết luận của Viện kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Phạm Quang Minh Đ và Hoàng Thị T1 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; các bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

[3] Trong vụ án Tàng trữ trái phép chất ma túy có tính chất đồng phạm nhưng giản đơn, không có sự cấu kết chặt chẽ, không có sự bàn bạc, phân công vai trò cụ thể khi thực hiện hành vi phạm tội nên không được xem là phạm tội có tổ chức. Do đó, các bị cáo đều phải chịu trách nhiệm hình sự như nhau về hành vi của mình.

[4] Hành vi phạm tội mà bị cáo Phạm Quang Minh Đ thực hiện là rất nghiêm trọng, bị cáo Hoàng Thị T1 thực hiện là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước. Về nhận thức, các bị cáo biết ma túy (Methamphetamine) là loại chất gây nghiện nguy hiểm do Nhà nước độc quyền và thống nhất quản lý. Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo Đ đã nhiều lần bị Tòa án xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” và “Cướp tài sản” nhưng sau khi chấp hành xong hình phạt, bị cáo lại tiếp tục phạm tội, chứng tỏ bị cáo xem thường pháp luật. Vì vậy, để có tác dụng tuyên truyền, giáo dục ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

  • - Bị cáo T1 không có.
  • - Bị cáo Đ bị Toà án nhân dân Quận 9 (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 135/2013/HSST ngày 13/9/2013 chưa được xóa án tích, nay tiếp tục phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015.

[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.

[7] Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo Đ từng bị xử phạt về tội trộm cắp tài sản, cướp giật tài sản và từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Bị cáo T1 từng bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

[8] Xử lý vật chứng:

  • - Đối với bì thư đã niêm phong ghi số 483/PC09 là mẫu vật hoàn lại sau giám định bên trong chứa 2,6711 gam ma túy loại Methamphetamine. Đây là vật cấm lưu thông nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa, 01 nỏ thuỷ tinh và 01 đoạn ống hút nhựa, là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Nouvo SX, màu sơn xanh bạc, biển số 78H1-19319, số máy: E3R7E019833, số khung RLCSE9210FY019858, dung tích xi lanh 124 cm³, là xe Đ mua lại của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) để làm phương tiện đi lại. Quá trình điều tra xác định ông Trần Tuấn A là chủ sở hữu. Qua làm việc, ông Tuấn A xác định đã bán xe trên cho 01 người không rõ nhân thân lai lịch, không có làm hợp đồng mua bán. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu theo quy định nhưng đến nay vẫn chưa có ai đến nhận. Đ đã sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định.

[9] Đối với người tên H2 cho Phạm Quang Minh Đ ma túy hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đang tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau là phù hợp.

[10] Đối với Lý Hoài T3, Nguyễn Văn S1 và Nguyễn Văn H có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý cùng với Phạm Quang Minh Đ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương đã ra Quyết định xử phạt hành chính mỗi người với số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm ngàn đồng) theo quy định tại khoản 1 Điều 23, Nghị định 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ là đúng quy định pháp luật.

[11] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đưa ra đối với các bị cáo về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, về xử lý vật chứng và mức hình phạt đối với bị cáo Đ và bị cáo T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là phù hợp nên có cơ sở chấp nhận; Riêng mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đưa ra đối với bị cáo Đ về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là nhẹ hơn so với tính chất, mức độ hành vi mà bị cáo đã thực hiện nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng mức hình phạt cao hơn mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

[12] Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Quang Minh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, bị cáo Hoàng Thị T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1.1/ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Quang Minh Đ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/8/2023.

1.2/ Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Quang Minh Đ 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/8/2023.

1.3/ Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, buộc bị cáo Phạm Quang Minh Đ chấp hành hình phạt chung của hai tội là 10 (mười) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/8/2023.

1.4 Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Hoàng Thị T1 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/8/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

  • - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư đã niêm phong ghi số 483/PC09 là mẫu vật hoàn lại sau giám định bên trong chứa 2,6711 gam ma túy loại Methamphetamine.
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma tuý gồm 01 (một) chai nhựa, 01 (một) nỏ thuỷ tinh và 01 (một) đoạn ống hút nhựa.
  • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Nouvo SX, màu sơn xanh bạc, biển số 78H1-19319, số máy: E3R7E019833, số khung RLCSE9210FY019858, dung tích xi lanh 124 cm³.

(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 15/4/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Phạm Quang Minh Đ và Hoàng Thị T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng).

4. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An;
  • - Công an thành phố Dĩ An;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An;
  • - Phòng PV06 - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 183/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương về tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 183/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Quang Minh Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger