|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 183/2024/HS-ST Ngày 22/10/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Giảng Trường, bà Nghiêm Thị Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Dương Minh Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 22/10/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 180/2024/TLST-HS ngày 02/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 180/2024/QĐXXST-HS ngày 10/10/2024 đối với:
1. Bị cáo: Nguyễn Đình T, sinh năm 2002; Nơi đăng ký HKTT: Thôn T, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đình G và bà Nguyễn Thị Đ; Có vợ là Nguyễn Thị Hoài L và có 02 con, con lớn sinh năm 2021, con nhỏ sinh năm 2024;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/8/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa.
2. Bị hại: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1979; Địa chỉ: Thôn T, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
3.1 Ông Nguyễn Đình G, sinh năm 1979; Địa chỉ: Thôn T, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
3.2 Ông Trần Thế N, sinh năm 1988; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 28/6/2024, T hỏi mượn mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị Đ chiếc xe mô tô Honda Vision BKS 99D1-34976 nhưng bà Đ không cho mượn. T tự ý lấy chìa khóa xe nhưng bị bà Đ ngăn cản không cho lấy. T tự ý xuống tầng 1 dắt xe, bà Đ ngăn cản giằng chìa khóa xe nhưng bị T gạt tay ra và nổ máy xe chạy đi, bà Đ túm áo của T giữ xe nhưng T vẫn phóng xe đi. T mang chiếc xe đến đặt làm tin và vay của ông Nguyễn Thế N1 5.000.000 đồng. Số tiền này T đã tiêu sài cá nhân hết và không mang xe về trả cho bà Đ. Vì vậy, bà Đ đã làm đơn trình báo Công an.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 54/KL-HĐĐGTS ngày 10/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Y kết luận: “Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision BKS 99D1-34976 đã qua sử dụng trị giá 21.000.000 đồng”.
Với nội dung trên, bản cáo trạng số 179/CT-VKSYP ngày 01/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Yên Phong để xét xử bị cáo Nguyễn Đình T về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Do không có tiền để ăn tiêu cá nhân nên bị cáo nảy sinh ý chiếm đoạt chiếc xe mô tô Honda Vision BKS 99D1-34976 của bà Đ là mẹ đẻ bị cáo mang đi cầm cố lấy tiền chi tiêu. T hỏi mượn xe nhưng bà Đ không đồng ý, T đã tự ý lấy chìa khóa xe và dắt xe đi mặc dù bị bà Đ ngăn cản, giật lại chìa khóa, túm áo để giữ không cho T mang xe đi nhưng T vẫn mang xe mô tô đi cầm cố vay của ông Trần Thế N 5.000.000 đồng. Khi vay tiền, T nói là xe của T nhưng không mang theo giấy tờ. Trước khi đi, T mượn điện thoại của ông Nguyễn Đình G là bố đẻ và lắp sim số 0362199731 để sử dụng. Bà Đ đã gọi điện thoại và nhắn tin nhiều lần nhưng T vẫn không mang xe về trả cho bà Đ.
Bị hại là bà Nguyễn Thị Đ đã nhận lại chiếc xe bị mất, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Đình G cho bị cáo mượn điện thoại để sử dụng nhưng không biết T thực hiện hành vi phạm tội. Ông G đã nhận lại điện thoại, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về dân sự.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Trần Thế N đã giao nộp cho cơ quan điều tra chiếc xe mô tô, khi cho vay tiền và nhận cầm cố chiếc xe bị cáo không nói cho ông biết nguồn gốc chiếc xe là do lấy của bà Đ. Ông N không yêu cầu bị cáo phải trả khoản tiền 5.000.000 đồng.
Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của
bị cáo cũng như xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 02/8/2024. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Lưu hồ sơ vụ án đĩa DVD hỏi cung bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án xác định: Khoảng 21 giờ ngày 28/6/2024, tại thôn T, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Đình T hỏi mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision BKS 99D1-34976 của bà Nguyễn Thị Đ có giá trị 21.000.000 đồng nhưng bà Đ không đồng ý, T đã tự ý lấy chìa khóa xe xuống tầng 1 dắt xe, bà Đ ngăn cản giằng chìa khóa xe nhưng bị T gạt tay ra và nổ máy xe chạy đi, bà Đ túm áo của T giữ xe nhưng T vẫn phóng xe đi. T mang chiếc xe đến đặt làm tin và vay của ông Nguyễn Thế N1 5.000.000 đồng. Số tiền này T đã tiêu sài cá nhân hết và không mang xe về trả cho bà Đ. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân nên cần phải xử lý nghiêm bị cáo theo quy định của Bộ luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Liên quan trong vụ án có anh Trần Thế N là người cho bị cáo T vay tiền và nhận chiếc xe mô tô để làm tin, T không nói và anh N cũng không biết chiếc xe do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y không xử lý đối với N là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 136, Điều 329, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T 16 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 02/8/2024.
Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án hợp lệ. /.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Thanh |
Bản án số 183/2024/HS-ST ngày 22/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về cướp giật tài sản
- Số bản án: 183/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đình T cướp giật tài sản
