TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 183/2024/DS-ST
Ngày: 28/9/2024
Về việc: “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lâm Minh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Triệu Khánh Long
Ông Triệu Láth
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên Tòa:
Bà Phạm Thị Diệp - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 71/2024/TLST-DS, ngày 11 tháng 4 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 204/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Hoài T; sinh năm: 1989 (ông T vắng mặt).
Địa chỉ: Số A lộ T, khóm W, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Trần Diễm M; sinh năm: 1996 là người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền ngày 30 tháng 01 năm 2024) (bà M có mặt).
Địa chỉ: Số C khóm T, phường K, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn: Ông Ngô D; sinh năm: 1967; bà Huỳnh Thị T1; sinh năm: 1967 và ông Ngô Quang V; sinh năm: 1992 (ông D, bà T1 và ông V vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp X, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 30/01/2024 của nguyên đơn ông Lê Hoài T và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của ông T là bà Trần Diễm M trình bày:
Ngày 15/01/2020 Ông Lê Hoài T (chủ hộ kinh doanh T2) và Ngô D, bà Huỳnh Thị T1, anh Ngô Quang V có ký hợp đồng bằng văn bản về việc mua bán thức ăn và thuốc thủy sản, hợp đồng có giá trị tính từ ngày 15/01/2020 đến 15/01/2021.
Theo đó các bên thống nhất thỏa thuận ông T có nghĩa vụ cung cấp thức ăn mang nhãn hiệu Việt H và các loại thuốc và hóa chất phục vụ cho việc nuôi tôm theo đơn đặt hàng của ông D, bà T1, anh V. Đơn giá được niêm yết tại cửa hàng và được xác định theo từng thời điểm và ghi nhận tại sổ giao nhận hàng. Hàng hóa được giao tại cửa hàng hoặc nhờ người nhà đến lấy theo đơn đặt hàng hoặc nhờ cửa hàng giao tận nhà. Sau khi nhận hàng thì tiến hành kiểm tra về số lượng, đơn giá, chất lượng, chủng loại sau khi thống nhất thì ký xác nhận vào sổ giao nhận hàng. Về phương thức thanh toán hai bên thống nhất thỏa thuận ông D, bà T1, anh V sẽ thanh toán cho ông T dứt điểm tiền nợ khi thu hoạch tôm, trường hợp nuôi thất vẫn phải thanh toán dứt điểm công nợ. Trong trường hợp thu hoạch tôm không thanh toán dứt công nợ ông T có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng và yêu cầu ông D, bà T1, anh V thanh toán hết tiền hàng. Trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ thanh toán thì không được tính chiết khấu.
Ông T đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình. Sau khi nhận hàng ông D, bà T1, anh V không phàn nàn về số lượng, chất lượng, chủng loại, đơn giá sản phẩm. Tuy nhiên sau khi thu hoạch tôm thì không thanh toán dứt điểm tiền hàng do đó ông T đã ngưng cung cấp hàng hóa. Hai bên tiến hành xác nhận lại nợ vào ngày 26/02/2020 thì Ông D, bà T1, anh V nợ lại ông T số tiền 568.443.000 đồng. Tuy nhiên sau đó hai bên vẫn tiếp tục giao dịch đến ngày 14/10/2020 thì Ông D, bà T1, anh V nợ lại ông T số tiền 571.466.000 đồng đến nay không thanh toán. Nay ông Lê Hoài T yêu cầu tòa án giải quyết:
Buộc N, bà Huỳnh Thị T1, anh Ngô Quang V có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho ông Lê Hoài T (chủ hộ kinh doanh Thành Lonh) số tiền nợ thức ăn và thuốc thủy sản là 759.732.299₫ (Bảy trăm năm mươi chín triệu bảy trăm ba mươi hai nghìn hai trăm chín mươi chín đồng): Trong đó tiền nợ gốc là 571.466.000 đồng; lãi suất chậm thanh toán 10%/năm/571.466.000 đồng từ ngày 14/10/2020 đến 30/01/2024 là 3 năm 3 tháng 16 ngày với số tiền 188.266.299 đồng.
Tại phiên tòa, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu tính lãi với số tiền 188.266.299 đồng, nguyên đơn chỉ yêu cầu các bị đơn ông Ngô D, bà Huỳnh Thị T1 và ông Ngô Quang V thanh toán tổng số tiền gốc 571.466.000 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Ngô D thừa nhận, ông và vợ Huỳnh Thị T1 và con là Ngô Quang V còn nợ nguyên đơn Lê Hoài T tiền thức ăn nuôi tôm và thuốc thủy sản với số tiền là 571.466.000 đồng và thống nhất trả số tiền này cho ông T nhưng do điều kiện khó khăn nên yêu cầu khi nào nuôi tôm trúng sẽ thanh toán cho ông H1.
Đối với bị đơn bà Huỳnh Thị T1 và ông Ngô Quang V: Dù được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, tại Thông báo thể hiện đầy đủ những tình tiết, sự kiện, tài liệu, yêu cầu khởi kiện của ông Lê Hoài T nhưng ông bà T1, ông V không phản đối, không có văn bản trình bày ý kiến. Tòa án đã thông báo kết quả phiên họp trên cho bà T1 và ông V và đưa vụ án ra xét xử. Phiên tòa ngày 19/9/2024, bị đơn bà T1 và ông V vẫn vắng mặt và không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa, tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo luật định.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa nêu quan điểm: Qua thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật Đối với bị đơn ông Ngô D, bà Huỳnh Thị T1 và ông Ngô Quang V, Tòa án đã triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng các bị đơn vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các bị đơn ông ông Ngô D, bà Huỳnh Thị T1 và ông Ngô Quang V theo quy định của pháp luật. Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Hoài T, buộc các bị đơn ông Ngô D, bà Huỳnh Thị T1 và ông Ngô Quang V liên đới trả cho nguyên đơn số tiền 571.466.000 đồng. Đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn ông Lê Hoài T về việc yêu cầu các bị đơn ông Ngô D, bà Huỳnh Thị T1 và ông Ngô Quang V thanh toán số tiền tiền lãi 188.266.299 đồng Đồng thời, quyết định về nghĩa vụ chịu án phí đối với đương sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Bị đơn ông Ngô D, bà Huỳnh Thị T1 và ông Ngô Quang V có địa chỉ cư trú tại ấp X, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn ông Ngô D, bà Huỳnh Thị T1 và ông Ngô Quang V đã được triệu tập hợp lệ lần hai tham gia phiên tòa, đều vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt bị đơn ông Ngô D, bà Huỳnh Thị T1 và ông Ngô Quang V.
Tại phiên tòa, nguyên đơn Lê Hoài T rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền lãi 188.266.299 đồng, chỉ yêu cầu các bị đơn ông Ngô D, bà Huỳnh Thị T1 và ông Ngô Quang V thanh toán số tiền 571.466.000 đồng. Việc rút một phần yêu cầu này của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đình chỉ đối với yêu cầu của nguyên đơn ông Lê Hoài T về việc yêu cầu các bị đơn ông Ngô D, bà Huỳnh Thị T1 và ông Ngô Quang V thanh toán số tiền lãi 188.266.299 đồng.
[2] Về nội dung giải quyết:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Hoài T yêu cầu bị đơn ông Ngô D, bà Huỳnh Thị T1 và ông Ngô Quang V thanh toán số tiền 571.466.000 đồng. Xét thấy, do có nhu cầu mua thức ăn nuôi tôm và thuốc thủy sản, phía bị đơn đã ký kết hợp đồng mua bán thức ăn nuôi tôm và thuốc thủy sản với phía nguyên đơn ông Lê Hoài T tại hợp đồng mua bán đề ngày 15/01/2020. Khi thực hiện giao dịch mua bán thì có sổ theo dõi giao nhận hàng của từng lần mua bán và có chốt lại số nợ mà các bị đơn còn nợ được phía các bị đơn ký xác nhận nợ. Đồng thời, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thông báo và công khai toàn bộ tài liệu, chứng cứ trong vụ án cho bà Huỳnh Thị T1 và ông Ngô Quang V nhưng bà T1 và ông V không phản đối và không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngoài ra, tại biên bản lấy lời khai đối với ông Ngô D thừa nhận ông cùng vợ Huỳnh Thị T1 và con Ngô Quang V có nợ tiền thức ăn nuôi tôm và thuốc thủy sản của ông Lê Hoài T số tiền 571.466.000 đồng đúng như nội dung khởi kiện của nguyên đơn nên đây thuộc tình tiết, sự kiện không phải chứng minh được quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Đồng thời, việc các bị đơn tham gia giao dịch mua bán là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 430 của Bộ luật dân sự 2015, nguyên đơn đã giao đủ thức ăn nuôi tôm và thuốc thủy sản cho bị đơn. Tuy nhiên, các bị đơn đã không thanh toán tiền cho nguyên đơn nên vi phạm quy định về nghĩa vụ theo quy định tại Điều 440 của Bộ luật dân sự 2015. Bị đơn yêu cầu nuôi tôm trúng sẽ trả số tiền 571.466.000 đồng đồng nhưng phía nguyên đơn không đồng ý và yêu cầu giải quyết theo quy định. Vì vậy, việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Ngô D, bà Huỳnh Thị T1 và ông Ngô Quang V thanh toán số tiền còn nợ 571.466.000 đồng là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Hoài T được chấp nhận nên các bị đơn ông Ngô D, bà Huỳnh Thị T1 và ông Ngô Quang V phải liên đới chịu án phí đối với yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận theo quy định pháp luật.
[4] Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có căn cứ pháp lý và cơ sở thực tiễn như đã nhận định ở trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 430, Điều 440, Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Hoài T với bị đơn ông Ngô D, bà Huỳnh Thị T1 và ông Ngô Quang V, về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”. Buộc ông Ngô D, bà Huỳnh Thị T1 và ông Ngô Quang V liên đới thanh toán cho ông Lê Hoài T số tiền 571.466.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và ông Lê Hoài T có đơn yêu cầu thi hành án, ông Ngô D, bà Huỳnh Thị T1 và ông Ngô Quang V phải trả lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
2. Đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn ông Lê Hoài T về việc yêu cầu các bị đơn ông Ngô D, bà Huỳnh Thị T1 và ông Ngô Quang V thanh toán số tiền lãi 188.266.299 đồng.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Ngô D, bà Huỳnh Thị T1 và ông Ngô Quang V liên đới chịu là 26.858.640 đồng.
- Nguyên đơn ông Lê Hoài T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 17.194.645 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0003174 ngày 09/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu.
4. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Minh Tuấn |
Bản án số 183/2024/DS-ST ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
- Số bản án: 183/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
