|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 183/2024/DS-ST Ngày 27/9/2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
– Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Giúp Đở
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Hồng Hạnh
Ông Phan Thanh Dũng
– Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phục Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Minh Khang – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 121/2024/TLST-DS ngày 13 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 579/2024/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 666/2024/QÐST-DS ngày 11 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1958 (có mặt)
Địa chỉ: Số F đường B, khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Minh T – Công ty L thuộc Đoàn luật sư thành phố C (có mặt)
Bị đơn: Ông Trương Thanh P, sinh năm 1981 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 22/4/2024 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:
Ngày 27/7/2020, ông có cho ông Trương Thanh P mượn số tiền 2.150.000.000đồng thông qua giấy nộp tiền vào tài khoản số 22903353 của ông Trương Thanh P tại Ngân hàng K – Phòng G để ông P trả nợ vay tại Ngân hàng K. Tại thời điểm mượn tiền ông P cam kết trong thời hạn 03 ngày sẽ trả lại, nếu sau 03 ngày không trả số tiền trên thì ông P chịu tiền lãi 20%/năm (tương đương 1,667%/tháng), nhưng chỉ cam kết miệng, giữa hai bên không có làm văn bản. Sau khi số tiền 2.150.000.000đồng được chuyển vào tài khoản thì ông P đã chuyển khoản trả nợ vay tại Ngân hàng K cùng ngày 27/7/2020 với số tiền 1.841.553.491đồng, số tiền còn lại 308.447.000đồng ông P đã rút tiền mặt tiêu xài. Sau khi tất toán khoản vay tại Ngân hàng K, ông P đã không thực hiện cam kết trả số tiền đã mượn nên ông đã gặp trực tiếp, liên lạc qua điện thoại yêu cầu ông P trả tiền vốn và tiền lãi nhưng ông P đã cố tính trốn tránh không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Vì vậy, ông làm đơn khởi kiện yêu cầu Toà án buộc ông Trương Thanh P phải trả số tiền vốn đã mượn 2.150.000.000đồng và phải chịu tiền lãi như đã cam kết với mức lãi suất 1,667%/tháng, tính từ ngày 01/8/2020 đến ngày xét xử. Ngoài ra, ông yêu cầu Toà án buộc ông P phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết nợ.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn Trương Thanh P vắng mặt.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn yêu cầu Toà án buộc bị đơn phải trả số tiền vay còn nợ là 2.150.000.000đồng, nguyên đơn xin rút lại yêu cầu tính lãi từ khi bị đơn vay tiền cho đến nay, nhưng phải chịu lãi chậm trả trong giai đoạn thi hành án.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn cho rằng vào ngày 27/7/2020, ông H có chuyển số tiền 2.150.000.000đồng vào tài khoản Ngân hàng số 22903353 của ông Trương Thanh P mở tại Ngân hàng K. Mục đích việc chuyển tiền này là để ông P thanh toán khoản nợ tại Ngân hàng K. Trước khi nhận tiền ông P có cam kết sẽ trả lại số tiền trên cho ông H sau khi vay tiền lại tại Ngân hàng K trong thời hạn 03 ngày, nếu sau 03 ngày không thanh toán được thì ông P sẽ chịu tiền lãi 1,667%/tháng. Tuy nhiên, kể từ khi ông P tất toán các khoản nợ vay tại Ngân hàng cho đến nay thì ông P không trả lại tiền gốc và tiền lãi cho ông H như đã cam kết. Tại phiên toà ông H chỉ yêu cầu trả lại tiền gốc, không yêu cầu tính lãi như yêu cầu trong đơn khợi kiện. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc ông Trương Thanh P phải trả lại số tiền vay còn nợ 2.150.000.000đồng cho ông Nguyễn Văn H.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Hội đồng xử và Thư ký đã tuân thủ đúng quy định pháp luật kể từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử đúng theo quy định. Các đương sự trong vụ án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền còn nợ là 2.150.000.000đồng và đình chỉ yêu cầu tính lãi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về thẩm quyền: Căn cứ vào yêu cầu của đương sự và nơi cư trú của bị đơn thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
- Xét yêu khởi kiện của nguyên đơn: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ cũng như lời trình bày của đương sự thì giữa ông H và ông P có thoả thuận về việc ông H cho ông P vay số tiền 2.150.000.000đồng để tất toán nợ tại Ngân hàng K, nhưng không lập hợp đồng vay. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông H có cung cấp giấy nộp tiền ngày 27/7/2020, ông H có nộp số tiền 2.150.000.000đồng và tài khoản số 22903353 của ông P mở tại Ngân hàng K. Ngoài ra, ông H còn cung cấp Hợp đồng tín dụng số 162/19/HDTD/1003-6044 ngày 01/3/2019 và Khế ước nhận nợ số 162/19-01/KUNN ngày 01/3/2019 của ông Trương Thanh P. Ông H không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ chứng minh giữa hai bên có thoả thuận tiền lãi và thoả thuận thời hạn trả nợ.
- Để bảo đảm tính khách quan của vụ án, ngày 01/7/2024 Toà án đã tiến hành thu thập chứng cứ và được Ngân hàng TMCP K – Chi nhánh R – Phòng G1 cung cấp Bảng kê giao dịch tài khoản số 22903353 của ông Trương Thanh P. Theo bảng kê giao dịch từ ngày 01/7/2020 đến ngày 31/8/2020 tài khoản 22903353 của ông Trương Thanh P thì ngày 27/7/2020 có nhận chuyển khoản của ông Nguyễn Văn H (số tài khoản 092058000797) số tiền 2.150.000.000đồng. Trong ngày 27/7/2020, ông P chuyển khoản số tiền 1.841.553.491 đồng tất toán hợp đồng vay số 162/19/HDTD/1003-6044 của ông tại Ngân hàng K. Sau đó ông P đã rút tiền mặt cùng ngày với số tiền 308.447.000đồng.
- Mặc dù, giữa ông H và ông P không có hợp đồng vay tiền, nhưng theo những chứng cứ nêu trên thì có đủ căn cứ xác định ông P có nhận chuyển khoản của ông H số tiền 2.150.000.000đồng, nhưng đến nay ông P vẫn chưa thanh toán lại cho ông H số tiền này. Vì vậy, việc ông H khởi kiện yêu cầu Toà án buộc ông P phải trả số nợ nêu trên là có cơ sở chấp nhận. Đối với yêu cầu tính lãi, tại phiên toà nguyên đơn đã rút lại yêu cầu này nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu.
- Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Buộc ông Trương Thanh P có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Văn H số tiền 2.150.000.000đồng (hai tỷ một trăm năm mươi triệu đồng). Kể từ khi nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị đơn chậm trả số tiền nêu trên thì bị đơn còn phải chịu tiền lãi tính theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: 75.000.000đồng, ông Trương Thanh P phải chịu.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Giúp Đỡ |
Bản án số 183/2024/DS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 183/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
