|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 183/2024/HS-ST
Ngày: 25-9-2024
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH - TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị An.
- Ông Vũ Tiến Thịnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Quyên – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 175/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 178/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Minh Đ, sinh ngày 18/12/1990, tại tỉnh Thái Bình;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số nhà B, đường T, tổ C, phường L, thành phố T, tỉnh Thái Bình; chỗ ở: thôn Đ, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Phạm Đình T (đã chết) và bà Bùi Thị D; Có vợ là Trần Thị M (đã ly hôn), có 01 con. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Quyết định số 558/QĐ-UBND ngày 14/4/2009 của Ủy ban nhân dân thành phố T áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm chữa bệnh giáo dục lao động xã hội thời gian 12 tháng. Chấp hành xong quyết định ngày 12/5/2010.
- Bản án số 82/2020/HSST ngày 02/7/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt 02 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.
- Chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 10/9/2020, chấp hành xong tịch thu nộp ngân sách nhà nước ngày 07/9/2020, chấp hành xong hình phạt bổ sung ngày 10/9/2020. Chấp hành xong án phạt tù ngày 17/9/2021.
- Bị bắt, tạm giữ từ ngày 10/6/2024 đến 16/6/2024 chuyển tạm giam đến nay. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Minh D1, sinh năm 1990, Nơi cư trú: Số nhà F, đường H, tổ I, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
- Người chứng kiến:
- Anh Bùi Tiến D2, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Tiến V, sinh năm 1973; Nơi cư trú: Số nhà F, đường N, tổ D, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 10/6/2024 Phạm Minh Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu tím, biển số 19H9 - 7327 từ chỗ ở đến khu vực cầu C, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình mua của một người nam giới khoảng 40 tuổi không biết tên, địa chỉ 01 túi ma tuý đá với giá 1.000.000 đồng, sau đó Đ cất giấu ma túy vào túi quần bên trái phía trước rồi điều khiển xe đi tìm nơi sử dụng. Đến 21 giờ cùng ngày Đ điều khiển xe đi dừng xe ven đường T khu công nghiệp N, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình thì bị tổ công tác phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh T phối hợp với Công an phường T, thành phố T phát hiện. Tại đây, trước sự chứng kiến của anh Nguyễn Tiến V và anh Bùi Tiến D2, Đ tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 túi nilon trong suốt có mép cài viền màu đỏ bên trong có chứa chất tinh thể trong suốt và khai nhận đó là ma túy đá Đ vừa mua để sử dụng cho bản thân, tổ công tác đã niêm phong vật chứng gửi đi giám định. Sau đó tổ công tác yêu cầu Đ đưa xe và mời những người chứng kiến về trụ sở Công an phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình để làm việc. Tại đây, tổ công tác kiểm tra thu giữ tại túi quần bên phải phía trước của Đ 01 điện thoại Huawei màu đen; kiểm tra xe mô tô của Đ không phát hiện thu giữ gì. Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Minh Đ tại thôn Đ, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình không phát hiện, thu giữ gì.
Bản kết luận giám định số 862/KL-KTHS ngày 14/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu vật quản lý của Phạm Minh Đ gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,4318 gam. Methamphetamine STT 247 Danh mục IIC phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận như trên. Lời khai của người chứng kiến là anh anh Nguyễn Tiến V và anh Bùi Tiến D2 đều thể hiện như lời khai của bị cáo.
Tại bản cáo trạng số 175/CT-VKSTPTB ngày 05/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố Phạm Minh Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 35, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/6/2024. Đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung phạt bị cáo từ 5 đến 7 triệu đồng. Vật chứng của vụ án: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn trả sau giám định. Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Huawei; trả lại cho anh D2 01 xe máy Honda Wave màu tím, biển số 19H9 - 7327. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có tranh luận gì. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy lỗi lầm của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo có mẹ già, con nhỏ, hoàn cảnh gia đình khó khăn, mong Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ hình phạt và không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người chứng kiến và còn được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an tỉnh T lập ngày 10/6/2024 tại trụ sở Công an phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Bản kết luận giám định số 862/KL-KTHS ngày 14/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Hồi 21 giờ 10/6/2024 tại khu vực ven đường T khu công nghiệp N, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình, Phạm Minh Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép trên người 01 gói ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,4318 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân, bị tổ công tác tổ công tác phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh T kết hợp với Công an phường T phát hiện bắt quả tang.
[3] Điều 249 Bộ luật Hình sự: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:... c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ...” Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, như vậy cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước ta, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Bị cáo đã nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện sự coi thường pháp luật.
[5] Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính và đã bị đưa ra xét xử nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại phạm tội. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy cần áp dụng khoản 5 Điều 249, Điều 35 Bộ luật Hình sự phạt tiền bị cáo để tịch thu sung Ngân sách nhà nước.
[6] Về vật chứng: Cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy số ma túy được hoàn trả sau giám định vì là vật cấm tàng trữ, lưu hành; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Huawei đã thu của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo. Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu tím, biển số 19H9 - 7327. Chủ xe là anh Phạm Minh D1. Anh Dũng cho Đ mượn chiếc xe trên để làm phương tiện đi lại, không biết việc Đ sử dụng chiếc xe trên để đi mua ma túy nên trả lại cho anh D1.
[7] Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo Phạm Minh Đ khai mua của một người nam giới ở khu vực cầu C, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình nhưng không biết tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47, Điều 50, Điều 35 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Minh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Minh Đ 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/6/2024. Phạt bị cáo 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) để sung Ngân sách nhà nước.
- Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 0,3723 gam mẫu vật gửi giám định và toàn bộ bao gói quản lý của Phạm Minh Đ trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 862/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T.
- Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Huawei màu đen, đã qua sử dụng.
- Trả lại anh Phạm Minh D1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu tím, biển số 19H9 – 7327, đã qua sử dụng.
(Vật chứng có đặc điểm như trong Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình ngày 06/9/2024).
- Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 25/9/2024. Anh Dũng được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hương |
6
Bản án số 183/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 183/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồi 21 giờ 10/6/2024 tại khu vực ven đường T khu công nghiệp N, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình, Phạm Minh Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép trên người 01 gói ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,4318 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân, bị tổ công tác tổ công tác phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh T kết hợp với Công an phường T phát hiện bắt quả tang.
