|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 183/2024/HSST
Ngày: 14/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Xuất.
Ông Dương Văn Xuyên.
- Thư ký phiên toà: Ông Tô Ngọc Lâm – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 161/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 186/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn H - Sinh ngày 06 tháng 4 năm 2005, tại Hà Nội. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn L, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội. Căn cước công dân số: [...]. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 09/12. Con ông: Phạm Văn H1, sinh năm 1968 (Đã chết). Con bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1966. Tiền án: Không. Tiền sự: Không. Tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện đang áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. D, chỉ bản số 513 ngày 24/6/2024 của Công an huyện S, thành phố Hà Nội. Có mặt.
- Bị hại: Ông Bùi Quang T, sinh năm 1978. Nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có việc làm và cần tiền tiêu xài cá nhân nên Phạm Minh H2, sinh năm 2005, trú tại thôn L, xã M, huyện S, Hà Nội đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 20/02/2024, H2 điều khiển xe mô tô Honda Dream BKS 98B1- 890.49 từ nhà đến khu vực thôn T, xã M, huyện S, H2 phát hiện thấy trong khu vườn của gia đình ông Bùi Quang T có nhiều tài sản và không có người trông coi. H2 dựng xe mô tô ở đường rồi trèo qua khe cạnh bờ ao để vào. Tại đây, H2 đã lấy 01 chiếc kích thuỷ lực; 02 mô tơ quạt gió; 01 mô tơ máy lọc nước; 01 máy bơm nước và 01 vỏ bảo tải trong vườn. Sau đó, H2 ném tất cả các tài sản trộm cắp được qua bờ tường và trèo qua khe cạnh bờ ao đi ra ngoài. H2 cho tất cả các tài sản vào trong vỏ bao tải, khi đang bê lên xe mô tô để tẩu thoát thì bị ông Nguyễn Đăng T1, sinh năm 1975, trú tại thôn T, xã M, huyện S, Hà Nội phát hiện bắt quả tang.
Kết luận định giá tài sản số 115 ngày 22/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S kết luận: 01 chiếc kích thuỷ lực màu đỏ đen, không có nhãn hiệu, mua cũ tháng 5/2023, lúc mua còn mới khoảng 70% giá trị sử dụng; 01 mô tơ quạt gió màu xám, không có nhãn hiệu, mua cũ tháng 5/2023, lúc mua còn mới khoảng 60% giá trị sử dụng; 01 mô tơ quạt gió màu xám, trên thân có dòng chữ TW Cooling system, mua cũ tháng 5/2023, lúc mua còn mới khoảng 60% giá trị sử dụng; 01 mô tơ máy lọc nước màu xám, trên thân có dòng chữ Diaphramgm Pump, chiếc mô tơ là bộ phận của cây lọc nước, mua mới tháng 2/2022; 01 máy bơm nước màu ghi, trên thân có dòng chữ Panie, mua mới tháng 2/2022 có tổng giá trị 2.116.666 đồng.
Tạm giữ và xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã tạm giữ 01 xe mô tô Honda Dream BKS 98B1-890.49; 01 chiếc kích thuỷ lực; 02 mô tơ quạt gió; 01 mô tơ máy lọc nước và 01 máy bơm nước.
Đối với chiếc xe mô tô Honda Dream BKS 98B1- 890.49, xác định chủ sở hữu hợp pháp là chị Đỗ Thị N, sinh năm 1990, trú tại thôn L, xã M, huyện S, Hà Nội. Do H2 không có phương tiện đi lại nên chị N đã cho H2 mượn chiếc xe mô tô trên. Ngày 20/02/2024, H2 sử dụng chiếc xe làm phương tiện đi trộm cắp tài sản thì chị N không biết. Ngày 19/6/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho chị N.
Về phần dân sự: Ngày 20/6/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại 01 chiếc kích thuỷ lực; 02 mô tơ quạt gió; 01 mô tơ máy lọc nước và 01 máy bơm nước cho gia đình ông Bùi Quang T. Ông T không còn yêu cầu gì về bồi thường.
Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của ông Bùi Quang T và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại cáo trạng số 147/CT-VKS ngày 19/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội đã truy tố Phạm Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố Phạm Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; các Điều 136; 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016, xử phạt Phạm Văn H với mức án từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 12 đến 18 tháng.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
{1} Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các quyết định, hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
{2} Về nội dung vụ án : Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Do đó xác định được: Ngày 20/02/2024, Phạm Văn H đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của ông Bùi Quang T tại thôn T, xã M, huyện S, Hà Nội gồm: 01 chiếc kích thuỷ lực màu đỏ đen; 01 mô tơ quạt gió màu xám; 01 mô tơ quạt gió màu xám; 01 mô tơ máy lọc nước màu xám; 01 máy bơm nước màu ghi. Tổng giá trị tài sản H trộm cắp là 2.116.666 đồng.
Vì vậy, đủ cơ sở kết luận Phạm Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, điều khoản này quy định hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Bản cáo trạng số 147/CT-VKS ngày 19/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố Phạm Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì chẳng những đã xâm phạm đến trật tự công cộng, trật tự pháp luật, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn huyện S. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt với mức án nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
{2.1} Về nhân thân và tình tiết tăng nặng: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng.
{2.2} Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã được thu hồi trả bị hại. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt và cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
{3} Về phần dân sự: Bị hại đã nhận tài sản, không còn yêu cầu gì về bồi thường thiệt hại tài sản, nên không phải đặt ra để giải quyết.
{4} Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật sung vào ngân sách Nhà nước.
{5} Về quyền kháng cáo: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn H phạm tội: Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Phạm Văn H 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án.
- Giao Phạm Văn H cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện S, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách bản án.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
- Căn cứ Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
+ Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai, sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T/M Hội đồng xét xử sơ thẩm Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Đỗ Thị Vân |
Bản án số 183/2024/HSST ngày 14/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 183/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn H phạm tội: Trộm cắp tài sản. - Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Phạm Văn H 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án. Giao Phạm Văn H cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện S, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách bản án. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. - Căn cứ Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. + Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước. Án xử công khai, sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.
