Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ MỸ THO

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 183/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 10/9/2024

V/v tranh chấp “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO - TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Sang.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Trạng.
  2. Bà Lê Thị Bé Bảy.

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Nhật Minh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đoan T - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 201/2024/TLST-HNGĐ ngày 15/4/2024 về tranh chấp “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 169/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 145/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Bích N, sinh năm 1990 (xin vắng mặt).

    Địa chỉ: Số D khu phố B, Phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

    Chỗ ở hiện nay: Số C tổ H, ấp D, xã Đ, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

  2. Bị đơn: Anh Võ Ngọc Đ, sinh năm 1988 (vắng mặt).

    Địa chỉ: Số D khu phố B, Phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Huỳnh Thị Bích N trình bày: Chị và anh Đ có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân Phường A1, thành phố M cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 25/5/2015. Trong quá trình sinh sống thời gian đầu hạnh phúc, nhưng đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cải vã, không còn tiếng nói chung, do chị có con riêng, mâu thuẫn về kinh tế trong gia đình, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, đã nhiều lần hàn gắn nhưng không có kết quả, đã ly thân từ năm 2022 cho đến nay, chị về sinh sống tại số C tổ H, ấp D, xã Đ, thành phố M, tỉnh Tiền Giang cho đến nay.

Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng hàn gắn, đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Đ.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Võ Ngọc Kim A, sinh ngày 03/10/2017, hiện đang sống chung với chị. Chị N yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Võ Ngọc Đ đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh Đ vẫn không cung cấp cho Tòa án ý kiến của anh đối với yêu cầu khởi kiện của chị N. Anh Đ vắng mặt không lý do trong tất cả các lần Tòa án triệu tập.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn không tuân thủ quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Anh Đ không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị N và cũng không tham dự các phiên hòa giải, phiên tòa, cho thấy anh Đ không có thiện chí hàn gắn tình cảm. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của chị N là có căn cứ chấp nhận. Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị N với anh Đ. Về con chung: Giao cháu Võ Ngọc Kim A cho chị N nuôi dưỡng, anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung, chị N trình bày không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Chị Huỳnh Thị Bích N có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Võ Ngọc Đ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị N, anh Đ.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[2] Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Bích N, anh Võ Ngọc Đ có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân Phường A1, thành phố M cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 25/5/2015, nên hôn nhân giữa anh, chị là hợp pháp.

Xét yêu cầu của chị Huỳnh Thị Bích N, Hội đồng xét xử nhận thấy: Chị N và anh Đ kết hôn năm 2015, tại bản tự khai, đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng chị N đều trình bày sau khi kết hôn thời gian đầu sống chung hạnh phúc, nhưng đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cải vã, không còn tiếng nói chung, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, đã nhiều lần hàn gắn nhưng không có kết quả, đã ly thân từ năm 2022 cho đến nay.

Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng hàn gắn, đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Đ.

Xét thấy, trong thời gian ly thân chị N, anh Đ không có biện pháp nào đoàn tụ, hiện mỗi người sống một nơi. Anh Đ thì không cung cấp ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị N và vắng mặt không dự phiên tòa để trình bày ý kiến về việc chị N yêu cầu ly hôn. Như vậy, hôn nhân giữa chị N và anh Đ đã lâm vào trình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị N yêu cầu được ly hôn với anh Đ là có cơ sở, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về con chung: Có 01 con chung tên Võ Ngọc Kim A, sinh ngày 03/10/2017, chị N yêu cầu được nuôi dưỡng con chung. Anh Đ thì không có ý kiến của mình về việc nuôi con để Hội đồng xét xử xem xét. Xét cháu Kim A còn rất nhỏ, để ổn định cuộc sống tâm sinh lý của cháu. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được nuôi con của chị N. Giao cháu Kim A cho chị N nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4] Về tài sản chung: Chị N trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về nợ chung: Chị N trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Chị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Xét, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Bích N.

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Huỳnh Thị Bích N và anh Võ Ngọc Đ.
  2. Về nuôi con chung: Giao cháu Võ Ngọc Kim A, sinh ngày 03/10/2017 cho chị Huỳnh Thị Bích N trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Võ Ngọc Đ không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Huỳnh Thị Bích N chưa yêu cầu.

    Anh Võ Ngọc Đ có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.

  3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  5. Về án phí: Chị Huỳnh Thị Bích N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006000 ngày 15/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang nên xem như chị Huỳnh Thị Bích N nộp xong án phí.

Chị Huỳnh Thị Bích N, anh Võ Ngọc Đ vắng mặt tại phiên tòa, có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND thành phố Mỹ Tho;
  • - Chi cục THADS TP. Mỹ Tho;
  • - UBND Phường 10, TP. Mỹ Tho, Tiền Giang;
  • - Các đương sự:
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(ĐÃ KÝ)

Đinh Thị Sang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 183/2024/HNGĐ-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO - TỈNH TIỀN GIANG về ly hôn

  • Số bản án: 183/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO - TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger