Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NINH KIỀU

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Bản án số: 183/2023/HSST

Ngày: 16/11/2023

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

+ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến Nhi

+ Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Đỗ Thị Lệ Hằng
  2. Bà Trần Thị Dung

+ Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Diệp -Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.

+ Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 178/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 883/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Lê Văn T (Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam; Sinh năm 1981; Nơi sinh: Cà Mau; Nơi cư trú: Ấp T, xã H, thành phố C, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở: Ấp T, xã H, TP ., tỉnh Cà Mau; Quê quán: Cà Mau; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 02/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Họ tên cha: Lê Văn T1, sinh năm 1957; Họ tên mẹ Trương Thị N, không rõ năm sinh; Anh, chị, em ruột : có 03 người, lớn nhất sinh năm 1985; nhỏ nhất sinh năm 1990; Vợ: Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm 1982 (đã ly hôn); Con: có 03 người, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2012;

- Tiền án: 01 lần. Ngày 02/11/2021, bị Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, xử phạt 02 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong án phạt tù vào ngày 09/02/2023 (đã đóng án phí).

- Tiền sự: Không.

- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/6/2023 đến ngày 09/7/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an quận N, TP . – (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Lê Văn T2 sinh năm: 1990 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã H, TP ., tỉnh Cà Mau.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 30/6/2023, bị cáo Lê Văn T gặp một người bạn tên T3 (không rõ họ tên, địa chỉ) nhờ liên hệ mua giùm 200.000 đồng ma túy đá, ông T3 đồng ý. Sau khi liên hệ với đối tượng bán ma túy, ông T3 nói bị cáo T đến cầu B thuộc quận B, gặp đối tượng nam, mặc áo màu đen để mua ma túy. Bị cáo điều khiển xe mô tô, biển số 63B3 - 766.66 từ quận C đến cầu B, quận B, thành phố Cần Thơ gặp đối tượng bán ma túy như ông T3 đã mô tả và mua của đối tượng này gói ma túy với giá 200.000 đồng. Bị cáo cất gói ma túy vào vỏ bao thuốc Jet rồi điều khiển xe đến đầu hẻm H đường C, phường C, quận N chờ đón bạn gái đi chơi; trong lúc bị cáo chờ bạn gái thì nhìn thấy lực lượng Công an đi đến nên bị cáo ném vỏ gói thuốc lá có chứa gói ma túy xuống chân nhưng vẫn bị lực lượng Công an phát hiện, bị cáo khai nhận gói nilon chứa tinh thể không màu trong vỏ bao thuốc lá là ma túy bị cáo vừa mua để sử dụng cho bản thân. Lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo, thu giữ những vật chứng sau:

  • 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet, bên trong có 01 gói nilon không màu, nẹp miệng viền đỏ chứa tinh thể không màu;
  • 01 nỏ thủy tinh; 01 quẹt gas; 01 đoạn ống hút nhựa; 01 cây nhiếp;
  • 01 điện thoại hiệu Samsung, màu gold, số kiểu máy: SM: 410F/DS;
  • 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Blade, màu đỏ - đen, biển số 63B3- 766.66 (bút lục: 16 - 17; 42 - 43; 49 - 57).

Tại Kết luận giám định số: 220/KLGĐ - KTHS ngày 07/7/2023 của Phòng K - Công an thành phố C kết luận: Tinh thể không màu trong gói nilon gửi giám định, là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1654 gam (bút lục: 30).

Đối với đối tượng tên T3 và đối tượng bán trái phép ma túy cho bị cáo do chưa xác định được họ tên thật và địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý.

Xe mô tô hiệu Honda, loại Blade, màu đỏ - đen, biển số 63B3-766.66, qua xác minh hiện thuộc sở hữu của ông Lê Văn T2 (em ruột của bị cáo). Ông T2 cho bị cáo T mượn xe làm phương tiện đi lại, ông T2 không biết bị cáo sử dụng xe đi mua trái phép ma túy. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô trên cho ông Lê Văn T2 (bút lục: 38;46; 48; 78).

Quá trình điều tra, bị cáo Lê Văn T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tình tiết tăng nặng: không. Về nhân thân: bị cáo có tiền án về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích.

2

Tại bản Cáo trạng số: 199/CT - VKSNK ngày 12/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều truy tố Lê Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

  • Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo ăn năn, hối cải thành khẩn khai báo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.
  • Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều phát biểu quan điểm: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Lê Văn T thừa nhận hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là phù hợp với các chứng cứ đã được thu thập hợp pháp trong quá trình điều tra. Đồng thời, bị cáo đã bị xử về tội vận chuyển trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích mà vi phạm. Do đó, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền án, chưa được xóa; Tiền sự: Không. Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Về tình tiết tăng nặng: Không. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo với mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt từ tính từ ngày 30/6/2023. Hình phạt bổ sung: không.

Về xử lý vật chứng: + Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong số: 220/KL-KTHS ngày 07/7/2023 của phòng K - Công an T; 01 (một) vỏ gói thuốc lá nhãn hiệu JET (đã qua sử dụng); 01 (một) nỏ thủy tinh (đã qua sử dụng); 01 (một) hột quẹt gas (đã qua sử dụng); 01 (một) đoạn ống hút nhựa (đã qua sử dụng); 01 (một) cây nhíp (đã qua sử dụng).

+ Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Blade, màu đỏ - đen, biển số 63B3 – 766.66 qua xác minh do ông Trần Hồng C đứng tên chủ sở hữu. Quá trình sử dụng, ông C đã bán lại chiếc xe trên cho ông Lê Văn T2 nhưng chưa làm thủ tục sang tên theo quy định. Trong quá trình sử dụng, ông T2 đưa cho bị cáo T mượn làm phương tiện đi lại. Việc bị cáo T sử dụng xe đi mua ma túy sử dụng thì ông T2 không biết. Nên Cơ quan điều tra ra quyết định xử lý vật chứng trao trả xe lại cho ông T2 theo quy định nên ghi nhận.

+ Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu gold (đã qua sử dụng) thu được trong quá trình bắt giữ bị cáo T là tài sản cá nhân của bị cáo T. Do đó, đề nghị trả lại cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

3

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

[2] Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai người làm chứng và các chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp trong quá trình điều tra vụ án. Điều này cho thấy: Ngày 30/6/2023, bị cáo Lê Văn T đã điều khiển xe mô tô, biển số 63B3 - 766.66 từ quận C đến cầu B, quận B gặp đối tượng không rõ họ tên để gói ma túy với giá 200.000 đồng. Sau khi mua xong, bị cáo cất gói ma túy vào vỏ bao thuốc Jet rồi điều khiển xe đến đầu Hẻm H đường C, phường C, quận N chờ bạn gái, trong lúc bị cáo chờ bạn gái thì nhìn thấy lực lượng Công an đi đến nên bị cáo ném vỏ gói thuốc lá có chứa gói ma túy xuống chân thì bị lực lượng Công an phát hiện, bị cáo khai nhận gói nilon chứa tinh thể không màu trong vỏ bao thuốc lá là ma túy bị cáo vừa mua để sử dụng.

Tại Bản kết luận giám định số: 220/KLGĐ - KTHS ngày 07/7/2023 của Phòng K - Công an thành phố C kết luận: Tinh thể không màu trong gói nilon gửi giám định, là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1654 gam.

Từ những tình tiết và chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Lê Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng như kết luận giám định nêu trên nhằm mục đích sử dụng. Đồng thời, bị cáo đã có 01 tiền án về tội vận chuyển trái phép chất ma túy nhưng chưa được xóa án tích mà vi phạm. Từ những tình tiết và hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo với lỗi cố ý và là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, xâm phạm đến tình hình trật tự trị an xã hội. Vì vậy, cần phải có một hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội.

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo có tiền án chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội, cho thấy bị cáo chưa có ý thức sửa đổi bản thân, xem thường pháp luật.

[3] Về tính tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 mà bị cáo được hưởng.

[4] Về tình tiết tăng nặng: không.

4

Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội cũng như nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: không

[6] Về xử lý vật chứng:

+ Đối với chất ma túy trong 01 gói niêm phong số: 220/KL-KTHS ngày 07/7/2023 của phòng K - Công an T; 01 (một) vỏ gói thuốc lá nhãn hiệu JET (đã qua sử dụng); 01 (một) nỏ thủy tinh (đã qua sử dụng); 01 (một) hột quẹt gas (đã qua sử dụng); 01 (một) đoạn ống hút nhựa (đã qua sử dụng); 01 (một) cây nhíp (đã qua sử dụng) là chất cấm lưu hành và dụng cụ sử dụng ma túy nên tịch thu tiêu hủy.

+ Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Blade, màu đỏ - đen, biển số 63B3 – 766.66, Cơ quan điều tra ra quyết định xử lý vật chứng trao trả xe lại cho ông Lê Văn T2 theo quy định nên ghi nhận.

+ Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung SM – J410F/DS màu gold, imei: 353793103003821 (đã qua sử dụng) là tài sản cá nhân của bị cáo T nên trả lại cho bị cáo.

Do đó, quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều truy tố bị cáo T về tội danh, điều luật, mức hình phạt, hình phạt bổ sung và xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp.

Đối với đối tượng tên T3 và đối tượng bán trái phép ma túy cho bị cáo do chưa xác định được họ tên thật và địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ vào: Điểm a,c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung 2017.
  2. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
    • - Hình phạt chính: Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T 02 (hai) năm tù giam.
    • Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30 tháng 6 năm 2023.
    • - Hình phạt bổ sung: không.
  3. Về xử lý vật chứng: Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
    • Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong số 220/KL-KTHS ngày 07/7/2023 của phòng K - Công an T; 01 (một) vỏ gói thuốc lá nhãn hiệu JET (đã qua sử dụng); 01 (một) nỏ thủy tinh (đã qua sử dụng); 01 (một) hột quẹt gas (đã qua sử dụng); 01 (một) đoạn ống hút nhựa (đã qua sử dụng); 01 (một) cây nhíp (đã qua sử dụng).
    • - Ghi nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Blade, màu đỏ - đen, biển số 63B3 – 766.66 cho ông Lê Văn T2.
    • - Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung SM – J410F/DS màu gold, imei: 353793103003821 (đã qua sử dụng).
  4. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
    • Bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết) để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

6

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Yến Nhi

* Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Các đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Q. Ninh Kiều;
  • - Công an Q. Ninh Kiều;
  • - Chi cục THADS Q. Ninh Kiều;
  • - Tòa án nhân dân TP. Cần Thơ;
  • - Sở Tư pháp TP. Cần Thơ;
  • - Lưu hồ sơ.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 183/2023/HSST ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 183/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T 02 (hai) năm tù giam.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger