Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN DƯƠNG

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 183/2024/HS-ST

Ngày 20-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Dung

Ông Vũ Văn Thi

- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Ngọc Khanh - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 174/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 183/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 với bị cáo:

Vũ Văn D, sinh ngày 05 tháng 8 năm 1983, tại Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đức T và bà Bùi Thị Q; có vợ là Trần Thị K và 3 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Tại Bản án số 81/2014/HSST ngày 31/7/2014, Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm 06 tháng về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13 tháng 6 năm 2024; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Ngô Văn S, sinh năm 1999 và chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1997; Địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 25/12/2023, Công an huyện A tiếp nhận tố giác tội phạm của anh Ngô Văn S về việc: Rạng sáng ngày 25/12/2023, tại nhà ở của vợ chồng anh S và chị Nguyễn Thị N tại thôn T, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng bị mất trộm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone 13 màu xanh, 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 12promax màu xám, 02 mũ lưỡi trai nhãn hiệu Nike Air và số tiền 3.200.000 đồng. Sau khi nhận được đơn trình báo, Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra xác minh vụ việc, cùng ngày Vũ Văn D đến Công an huyện A tự thú về hành vi tiêu thụ tài sản và tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 13 màu xanh, 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 12promax màu xám và 02 mũ lưỡi trai nhãn hiệu Nike Air.

Tại Kết luận định giá tài sản số 35/KL-HĐĐG ngày 24/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện A, kết luận: 02 mũ lưỡi trai màu đen trắng nhãn hiệu Nike Air trị giá 13.395.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 13 màu xanh trị giá 12.536.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 12promax màu xám trị giá 11.774.000 đồng. Tổng trị giá 37.705.000 đồng.

Quá trình điều tra Vũ Văn D, khai nhận: Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 25/12/2023, D đang ở trong xe ô tô biển kiểm soát 15H-001.81 kéo sơmi rơ móoc biển kiểm soát 15R-037.78 đỗ tại rìa đường quốc lộ 10, đoạn thuộc thôn T, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng thì có 02 nam giới không rõ lai lịch điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave màu xanh, không đeo biển kiểm soát đến gõ cửa xe. Dụng hạ kính xe thì người nam giới ngồi phía trước giơ lên 02 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone, 02 mũ lưỡi trai và gạ bán với giá 2.500.000 đồng, D kiểm tra 02 chiếc điện thoại di động vẫn hoạt động được, D hỏi mật khẩu thì người này nói không có nên D biết nguồn gốc tài sản là do các đối tượng phạm tội mà có vì lúc này là sáng sớm, các đối tượng đeo khẩu trang, đi xe không biển kiểm soát, không có mật khẩu điện thoại, điện thoại có giá trị lớn mà bán với giá rẻ nhưng D vẫn đồng ý mua. D đưa cho 02 người nam giới số tiền 2.500.000 đồng rồi nhận lấy 02 chiếc điện thoại di động và 02 mũ lưỡi trai. Sau đó, 02 người nam giới điều khiển xe mô tô bỏ đi.

Cáo trạng số 192/CT-VKS-AD ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Vũ Văn D về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên. Bị cáo nhận thức hình vi của mình là trái pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn D phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Văn D từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định các bị cáo có tội và tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ, phù hợp với kết luận định giá số 35/KL-HĐĐG ngày 24 tháng 4 năm 2024 và với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận: Ngày 25/12/2023, tại thôn T, xã L, huyện A, Vũ Văn D biết rõ 02 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone và 02 mũ lưỡi trai nhãn hiệu Nike Air là do phạm tội mà có nhưng vẫn đồng ý mua với giá 2.500.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo Vũ Văn D đã phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội nên hành vi phạm tội của bị cáo phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân và hình phạt: Bị cáo đã tự thú về hành vi phạm tội của mình, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có bố là thương binh nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Xét hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội bị cáo đã tự thú khai nhận hành vi phạm tội, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, gia đình bị cáo có đơn xin cam đoan quản lý bị cáo và có xác nhận của địa phương. Cho thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, đồng thời ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo và thể hiện tính nhân đạo của pháp luật. Theo quy định tại khoản 5 Điều 323 Bộ luật Hình sự người phạm tội còn có thể bị phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Anh Ngô Văn S và chị Nguyễn Thị N đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.

[7] Về vật chứng: 02 điện thoại di động nhãn hiệu iphone và 02 mũ lưỡi trai nhãn hiệu Nike Air do Vũ Văn D nộp, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Ngô Văn S và chị Nguyễn Thị N.

[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Văn D.

Tuyên bố bị cáo Vũ Văn D phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Xử phạt bị cáo Vũ Văn D 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Vũ Văn D cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

- Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

- Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau: Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó. Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.

- Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này. Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.

- Về biện pháp ngăn chặn: Áp dụng Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6 và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Vũ Văn D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo nội dung bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân TP. Hải Phòng;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Dương;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện An Dương;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương;
  • - Tòa án nhân dân T.P Hải Phòng;
  • - Phòng PV 06, PC 10 Công an T.P Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp T.P Hải Phòng;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 183/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 183/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Văn Dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger