|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 183/2023/HS-PT Ngày 17/11/2023 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hải Vinh.
- - Các Thẩm phán: 1) Bà Trần Thị Hà.
- 2) Ông Nguyễn Gia Lương.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- - Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Hoàng T - Kiểm sát viên trung cấp.
Trong ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 275/2023/TLPT-HS ngày 06 tháng 10 năm 2023 đối với các bị cáo Đỗ Văn T1, Đặng Văn D và Nguyễn Văn T2 do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 70/2023/HS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
* Bị cáo có kháng cáo:
1. Họ và tên: Đỗ Văn T1; Tên gọi khác: Không;
Giới tính: Nam;
Sinh ngày tháng năm 1998;
Nơi cư trú: thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không;
Nghề nghiệp: Công nhân Trình độ văn hóa: 3/12;
Con ông: Đỗ Văn C, đã chết;
Con bà: Đặng Thị H, sinh năm 1971;
Vợ, con: Chưa có;
Gia đình bị cáo có 4 chị em, bị cáo là con thứ 4;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
2. Họ và tên: Đặng Văn D; Tên gọi khác: Không;
Giới tính: Nam;
Sinh năm 1992 tại huyện H, tỉnh Bắc Giang;
Nơi cư trú: thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 7/12;
Họ và tên cha: Đặng Văn P - sinh năm 1962 (đã chết);
Họ và tên mẹ: Trương Thị T3 - sinh năm 1965;
Vợ: Quách Thị Như H1 - sinh năm 1993;
Bị cáo có 02 con (con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2018);
Gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị can là con thứ 4;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 26/10/2011, Trưởng Công an huyện H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đặng Văn D bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác” (chấp hành việc nộp phạt ngày 26/10/2011).
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
3. Họ và tên: Nguyễn Văn T2; Tên gọi khác: Không;
Giới tính: Nam;
Sinh năm 1989 tại huyện H, tỉnh Bắc Giang;
Nơi cư trú: thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 0/12;
Họ và tên cha: Nguyễn Văn T4 - sinh năm 1952 (đã chết);
Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị H2 - sinh năm 1953 (đã chết);
Vợ: Lò Thị M - sinh năm 1999;
Bị cáo có 02 con (con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2021);
Gia đình bị cáo có 08 chị em, bị can là con thứ 8;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T2: Bà Nguyễn Thị M1 – Trợ giúp viên pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Giang. (có mặt).
* Bị hại:
- Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1989 (có mặt).
Nơi cư trú: Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang. - Anh Đặng Văn D, sinh năm 1992 (có mặt).
Nơi cư trú: thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang; - Ông Sái Văn S, sinh năm 1974 (có mặt).
Nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội.
Trong vụ án còn có người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng nhưng không có kháng cáo và liên quan đến kháng cáo Tòa phúc thẩm không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Văn T1 - sinh năm 1998 trú tại thôn Đ, xã H, huyện H và Nguyễn Văn T2 - sinh năm 1989 trú tại thôn N, xã H, huyện H có mối quan hệ quen biết nhau, T1 có làm thuê cho T2 và vay của Thêm tiền nhưng chưa trả. Khoảng 21 giờ ngày 27/3/2023, T1 gọi điện thoại di động cho T2 hẹn gặp Thêm để nói chuyện liên quan đến số tiền T1 còn nợ T2 thì T2 nói với T1 là bận chưa sang được và T1 có lời nói thách thức Thêm. Lúc này, T2 đang uống bia cùng anh Sái Văn S - sinh năm 1974 trú tại thôn A, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội nên T2 rủ anh S cùng đến nhà T1 với mục đích xem T1 dám làm gì mà lại thách thức được anh S đồng ý. Thêm điều khiển xe mô tô chở anh S mang theo 02 vỏ chai bia Tiger bằng thủy tinh. Đến gần nhà T1, T2 gọi điện thoại cho T1 và nói “Bố ơi, con đang ở nhà bố đây”. Lúc này, T1 đang ngồi uống rượu với Đặng Văn D - sinh năm 1992 trú tại thôn Đ, xã H, huyện H nên rủ D cùng đi về nhà mình. T1 hỏi D “Nhà anh có con dao nào không?” thì D trả lời “có con dao thái thịt ở trong bếp”, T1 bảo tiếp “Anh cầm đi cho em”, D đồng ý. Sau đó, D cầm con dao gài ở phía trước xe còn T1 nhặt viên gạch ở nhà D mang theo với mục đích nếu xảy ra xô xát với T2 thì sẽ sử dụng dao và gạch để tấn công.
Thêm đi vào trong sân nhà T1 gặp bà Đặng Thị H - sinh năm 1971 (mẹ đẻ của T1), T2 hỏi “T1 có nhà không?” bà H trả lời là “Không có”. Thấy vậy, T2 đi ra phía ngoài cổng thì thấy D và T1 đi về đến, T2 thấy D cầm dao bằng tay phải chỉ về phía Thêm; T2 cũng dùng tay phải cầm vỏ chai bia mang theo dơ lên cao, tay trái chỉ về phía D và hai bên xảy ra to tiếng cãi nhau. D xuống xe tiến thẳng về phía Thêm thì T2 bỏ chạy, vừa chạy vừa quay đầu lại ném vỏ chai bia về phía D nhưng không trúng. Lúc này, T1 xuống xe, tay phải cầm viên gạch mang theo đập 01 nhát trúng vào đầu anh S. Sau đó, anh S đuổi đánh T1 thì T1 chạy về phía bờ sông nên không đuổi kịp, còn D vẫn tiếp tục đuổi theo T2 về phía ngã tư, đuổi được khoảng 05 mét thì dừng lại và quay về phía cổng nhà T1. Thấy D không đuổi theo nữa đồng thời nghe thấy anh S kêu “thằng này nó đánh anh rồi” nên T2 vứt vỏ chai bia ở rìa đường rồi nhặt 01 khúc gỗ dài 1,05m ở đầu ngõ chạy quay về nhà T1 thì nhìn thấy D đang cầm dao trên tay, T2 đứng đối diện T1, cầm khúc gỗ bằng hai tay vụt 01 nhát vào khu vực gối trái của D rồi vứt khúc gỗ và chạy vào bếp nhà T1, tay phải cầm 01 chiếc chảo; tay trái cầm 01 chiếc mâm đi ra sân. D thấy T2 chạy vào bếp cũng chạy theo và dùng dao chém về phía sau của T2 nhưng không trúng, D đi ra giữa sân nhà T1 thì T2 cầm chảo và mâm chạy ra đứng đối diện D. D tay phải cầm dao chém về phía T2, T2 cầm mâm giơ lên đỡ thì bị dao chém trúng ngón tay cái bàn tay trái; lúc này, T2 dùng tay phải cầm chảo đập trúng khu vực trán trái của D làm dũng ngã ra sân. Thêm lao vào giật con dao của D thì bị D vừa túm cổ áo Thêm. D kêu lên “T1 ơi, anh chảy máu rồi”. Lúc này, T1 từ cổng chạy thẳng vào trong bếp cầm 01 con dao dạng dao phay chạy ra chỗ D và T2, D đứng ở phía sau T2 (cách Thêm khoảng 01m), tay phải cầm dao chém trúng khu vực đầu của T2 làm Thêm ngã nghiêng phải, hai tay ôm đầu, T1 tiếp tục dùng chân phải đạp vào sườn trái T2 còn D dùng chân phải đá vào khu vực ngực, mặt Thêm. Lúc này, anh Đặng Văn T5 - sinh năm 1990 (là anh trai D) thấy đánh nhau nên chạy vào can ngăn. D và T1 sau khi được can ngăn đã lên xe mô tô, bỏ đi xuống Bắc Ninh. Riêng T2 và anh S được mọi người đưa đến Trạm y tế xã H sơ cứu rồi được điều chuyển đến Bệnh viện C1 điều trị.
Sau khi sự việc xảy ra, Công an xã H, huyện H đã tiến hành kiểm tra, xác định hiện trường. Kết quả thu giữ: tại sân nhà T1 có 01 đoạn dây kim loại dạng dẹt, móc nối lại với nhau có chiều dài 53cm, bề mặt bám dính chất màu đỏ; 02 vật bằng nhựa màu trắng hình tròn (dạng giống cúc áo), 04 lỗ ở giữa, bề mặt bám dính chất màu đỏ; 01 đoạn kim loại sáng màu có tiết diện hình trụ bị cong và một số mảnh vỡ bằng thủy tinh được thu giữ trên trục đường liên xóm cách cổng nhà T1 02m.
Đến ngày 28/3/2023, Đỗ Văn T1 tự nguyện giao nộp cho Công an xã H: 01 chảo bằng kim loại, đường kính 26cm, chuôi bằng kim loại dài 20cm được bọc bằng nhựa màu đen có đầu chuôi bằng nhựa màu cam; 01 mâm bằng kim loại có đường kính 50cm bị móp méo một phần có kích thước (30x5)cm; 01 con dao có lưỡi dao dài 33cm, chuôi dao bằng gỗ; 01 khúc gỗ dài 1,05m, đầu to có chu vi 42cm, đầu nhỏ có chu vi 30cm là công cụ, phương tiện dùng để gây thương tích ngày 27/3/2023.
Cùng ngày, Đặng Văn D giao nộp cho Công an xã H: 01 con dao bằng kim loại có lưỡi dao dài 23cm, chuôi dao bằng gỗ dài 11cm, hai đầu chuôi dao có gắn vòng kim loại và trình bày: đây là con dao của nhà D mà D dùng để gây thương tích cho Thêm ngày 27/3/2023.
Ngày 03/4/2023, Công an xã H đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc cùng vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H để giải quyết theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra, Đỗ Văn T1 còn giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H 01 viên gạch nguyên loại gạch nung màu xám - đen kích thước (11 x 9 x 5,4)cm và trình bày: Viên gạch trên là T1 lấy ở nơi đã nhặt viên gạch để cầm theo sau đó dùng để gây thương tích cho anh Sái Văn S ngày 27/3/2023 và nó có đặc điểm tương tự như viên gạch mà T1 dùng để gây thương tích cho anh S.
Bệnh viện C1 xác định: anh Nguyễn Văn T2 có các thương tích sau: Chấn động não, vết thương phần mềm vùng đầu, bàn tay trái, Chấn thương do bị chém, mẻ răng. Sái Văn S có các thương tích: Chấn động não, vết thương hở ở đầu.
Trung tâm y tế huyện H xác định: bà Đặng Thị H vào viện lúc 23 giờ 50 phút ngày 27/3/2023; ra viện lúc 16 giờ ngày 29/3/2023; chẩn đoán: chấn thương ngực, bụng kín do bị đánh.
Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể do Công an xã H lập ngày 28/3/2023 xác định: Đặng Văn D có 01 vết thương vùng trán bên trái, rách da dài 03cm, có chảy máu; 01 vết bầm tím có chiều dài (7 x 5)cm ở mặt sau đùi trái - Đặng Văn D không phải đi viện điều trị.
Tại Kết luận giám định tổn thương có thể trên người sống số 1386 ngày 15/5/2023 và Kết luận giám định vật gây thương tích số 1386B ngày 16/5/2023 của Trung tâm Pháp y - Bệnh viện Đa khoa tỉnh B kết luận đối với trưng cầu giám định tỷ lệ thương tích của Nguyễn Văn T2: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn T2 tại thời điểm giám định là 7%; vết sẹo vùng chẩm, vết sẹo vùng thái dương trái, vết sẹo ngón 1 bàn tay trái do vật sắc gây nên; chạm thương vùng mặt không còn dấu vết, mẻ răng 1.1 do vật tày gây nên; dùng chân đá vào mồm, miệng gây được thương tích mẻ rang 1.1 của Nguyễn Văn T2; con dao bằng kim loại, lưỡi dao dài 33cm, chuôi dao bằng gỗ là vật gây được thương tích vùng chẩm và vùng thái dương trái của Nguyễn Văn T2; con dao bằng kim loại, lưỡi dao dài 23cm, chuôi dao bằng gỗ dài 11cm là vật gây được thương tích ngón 1 bàn tay trái của Nguyễn Văn T2.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1387 ngày 15/5/2023 và Kết luận giám định vật gây thương tích số 1387B ngày 16/5/2023 của Trung tâm Pháp y - Bệnh viện Đa khoa tỉnh B kết luận đối với trưng cầu giám định tỷ lệ thương tích của Đặng Văn D: Thương tích vết sẹo vùng trán trái kích thước nhỏ: 3%, thương tích chạm thương mặt sau 1/3 dưới đùi trái không còn dấu vết: 0%, tỷ lệ tổn thương cơ thể của Đặng Văn D tại thời điểm giám định là 3%, các thương tích do vật tày gây nên; chiếc chảo gửi giám định là vật gây được thương tích ở trán của Đặng Văn D; khúc gỗ gửi giám định là vật gây được thương tích ở mặt sau đùi trái phía dưới của Đặng Văn D.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1388 ngày 16/5/2023 và Kết luận giám định vật gây thương tích số 1388B ngày 18/5/2023 của Trung tâm Pháp y - Bệnh viện Đa khoa tỉnh B kết luận đối với trưng cầu giám định tỷ lệ thương tích của anh Sái Văn S: thương tích vết sẹo vùng đỉnh trái kích thước nhỏ + chấn động não + điện não đồ: hiện tại không thấy sóng điện não bệnh lý: 4%, tỷ lệ tổn thương cơ thể của Sái Văn S tại thời điểm giám định là 4%; các thương tích do vật tày gây nên; viên gạch gửi giám định là vật gây được thương tích ở vùng đầu của Sái Văn S.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1389 ngày 16/5/2023 của Trung tâm Pháp y Bệnh viện Đa khoa tỉnh B kết luận đối với trưng cầu giám định tỷ lệ thương tích của bà Đặng Thị H: kiểm tra vùng ngực phải, bụng phải, hạ sườn phải, mạn sườn phải không thấy dấu vết thương tích: 0%.
Anh Sái Văn S, Đặng Văn D và Nguyễn Văn T2 đều làm đơn yêu cầu Cơ quan điều tra Công an huyện H xem xét khởi tố đối với những người đã gây thương tích cho anh S, D và T2.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành cho Nguyễn Văn T2 nhận dạng chiếc chảo mà Đỗ Văn T1 giao nộp đồng thời tiến hành cho các đối tượng thực nghiệm lại hành vi gây thương tích ngày 27/3/2023. Kết quả: Nguyễn Văn T2 nhận dạng được chính là chiếc chảo mà T2 lấy ở trong ở trong bếp ra T1 mang ra giữa sân để chống trả lại Đặng Văn D ngày 27/3/2023; Nguyễn Văn T2, Đỗ Văn T1 và Đặng Văn D diễn lại hành vi gây thương tích, phù hợp với lời khai và vật chứng đã thu giữ.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T2, Đặng Văn D và Đỗ Văn T1 thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tuy nhiên, Nguyễn Văn T2 trình bày do bị D chém trước nên T2 mới có hành vi dùng chảo chống trả lại và cho rằng đó là hành vi phòng vệ chính đáng.
Ngoài ra, Nguyễn Văn T2 và anh Sái Văn S trình bày: Trong quá trình xảy ra xô xát, T2 bị mất 01 sợi dây chuyền bạc 10 chỉ và 01 chiếc ví da nam bên trong có số tiền 46.300.000 đồng; anh S bị mất 01 sợi dây chuyền vàng 10 chỉ trị giá 52.850.000 đồng. Quá trình điều tra xác định T2 đến nhà T1, chủ động mang theo 02 vỏ chai bia; khi bị D đuổi, T2 có ném chai bia về phía D nhưng không trúng; sau khi biết S bị đánh đánh, T2 đã nhặt gậy gỗ chủ động tiến đến vụt vào chân D và chạy vào bếp lấy chảo và mâm ra để tấn công D thì bị D dùng dao chém, T2 giơ mâm lên đỡ và bị chém trúng vào ngón tay, sau đó 2 người tiếp tục dùng hung khí đánh nhau. Như vậy, T2 là người chủ động trong việc thực hiện hành vi tấn công gây thương tích đối với D, không thuộc trường hợp chống trả quá mức cần thiết do hành vi D xâm phạm.
Đối với 01 sợi dây chuyền bạc T2 bị mất trong khi xô xát đánh nhau: Kết quả điều tra xác định sợ dây chuyền bạc thu giữ tại hiện trường chính là sợi dây chuyền của Nguyễn Văn T2. Đối với 01 ví tiền Thêm khai bị mất, quá trình điều tra, anh Đặng Văn T5 khai nhận tại Trạm Y tế xã Hợp Thịnh ngày 27/3/2023, anh T5 có nghe thấy anh Sái Văn H3 - sinh năm 1974 trú tại thôn A, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội có hỏi T2 về việc có bị mất gì không thì T2 trả lời là “bị mất sợi dây chuyển còn ví vẫn ở đây” đồng thời đưa tay trái vỗ vào túi quần trước bên phải. Tuy nhiên, anh H3 và T2 không thừa nhận nội dung trên. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất nhưng các bên giữ nguyên lời khai.
Đối với 01 sợi dây chuyền vàng theo lời khai của anh S đến nay không xác định được thời điểm mất cũng như không xác định được ai đã nhặt được nên không có căn cứ để xem xét, xử lý.
Bà Đặng Thị H trình bày: Khi T2 và anh S đến nhà tìm gặp T1 thì chỉ có một mình bà H ở nhà, Nguyễn Văn T2 đã có hành vi dùng chân phải đạp trúng đùi trái bà H, làm bà H ngã và phần sườn bên phải đập vào chân cầu thang; sau đó, khi ở ngoài sân, T2 tiếp tục dùng chân phải đạp trúng bụng bà H làm bà H ngã ngửa. Quá trình điều tra T2 không thừa nhận đã thực hiện hành vi đánh bà H. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành cho T2 và bà H đối chất nhưng các bên đều giữ nguyên lời khai của mình. Ngoài lời khai của bà H ra không còn tài liệu, chứng cứ nào khác xác định T2 đánh bà H. Mặt khác, kết quả giám định xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của bà H tại thời điểm giám định là 0%. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xem xét, xử lý đối với T2.
Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra xác định: 01 chảo bằng kim loại, đường kính 26cm, chuôi bằng kim loại dài 20cm được bọc bằng nhựa màu đen có đầu chuôi bằng nhựa màu cam; 01 mâm bằng kim loại có đường kính 50cm bị móp méo một phần có kích thước (30 x 5)cm; 01 con dao có lưỡi dao dài 33cm, chuôi dao bằng gỗ; 01 con dao bằng kim loại có lưỡi dao dài 23cm, chuôi dao bằng gỗ dài 11cm, hai đầu chuôi dao có gắn vòng kim loại; 01 viên gạch màu xám - đen kích thước (11 x 9 x 5,4)cm; 01 khúc gỗ dài 1,05m, đầu to có chu vi 42cm, đầu nhỏ có chu vi 30cm; các mảnh vỡ thủy tinh. Đây là công cụ, phương tiện các bị cáo dùng vào việc thực hiện hành vi phạm tội.
Đối với 02 vật bằng nhựa màu trắng hình tròn (dạng giống cúc áo), 04 lỗ ở giữa, quá trình điều tra không xác định được thuộc quyền sở hữu của ai. Đối với 01 đoạn dây kim loại màu bạc gồm nhiều vòng khép kín kết nối nhau thành sợi dài 53cm; 01 đoạn kim loại màu bạc bị uốn cong hình số 2, kích thước (3,5x1)cm; quá trình điều tra xác định thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Nguyễn Văn T2 không liên quan đến hành vi phạm tội.
Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Văn T2 yêu cầu bồi thường tổng số tiền 24.700.000 đồng (bao gồm chi phí điều trị, tiền thuốc, tiền mất thu nhập do sức khỏe bị ảnh hưởng, tiền công người chăm sóc); Anh Sái Văn S yêu cầu bồi thường tổng số tiền 58.930.000 đồng (bao gồm giá trị 01 sợi dây chuyền vàng 10 chỉ là 52.850.000 đồng, chi phí điều trị, tiền thuốc là 1.080.000 đồng, tiền mất thu nhập do sức khỏe bị ảnh hưởng và 04 ngày không đi làm là 4.000.000 đồng, tiền công người chăm sóc 400.000 đồng, tiền thuê xe đi lại hai lượt 600.000 đồng). Đến nay, Đỗ Văn T1 chưa thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại.
Bản án hình sự sơ thẩm số 70/2023/HS-ST ngày 31 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đã căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn T1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134 xử phạt bị cáo Đặng Văn D 01 (một) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2 10 (mười) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự; xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Sau khi cấp sơ thẩm xét xử xong, ngày 05/9/2023 các bị cáo Đỗ Văn T1, Đặng Văn D và Nguyễn Văn T2 kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.
Ngày 14/11/2023 các bị hại anh Nguyễn Văn T2, anh Đặng Văn D và ông Sái Văn S có đơn xin rút yêu cầu khởi tố hình sự và các bên đã tự thỏa thuận về phần trách nhiệm dân sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo.
Bị hại anh Nguyễn Văn T2 xin rút yêu cầu khởi tố hình sự đối với bị cáo Đỗ Văn T1 và bị cáo Đặng Văn D.
Bị hại anh Đặng Văn D xin rút yêu cầu khởi tố hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T2.
Bị hại ông Sái Văn S xin rút yêu cầu khởi tố hình sự đối với bị cáo Đỗ Văn T1.
Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo T2 trình bày: Việc xin rút yêu cầu khởi tố của các bị hại và đơn kháng cáo của các bị cáo là tự nguyện. Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 155; Điều 359 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu ý kiến: Việc các bị hại có đơn xin rút yêu cầu khởi tố đối với các bị cáo và các bị cáo xin rút đơn kháng cáo là tự nguyện, không bị ép buộc. Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 155; điểm d khoản 1 Điều 355; Điều 359 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 70/2023/HS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang và đình chỉ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo:
Đơn kháng cáo của các bị cáo đã được làm trong thời hạn quy định của pháp luật theo đúng quy định tại Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp. HĐXX chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo Đỗ Văn T1, Đặng Văn D và Nguyễn Văn T2 như sau: Khoảng 22 giờ ngày 27/3/2023, tại nhà Đỗ Văn T1 ở thôn Đ, xã H, huyện H, do mâu thuẫn trong việc vay nợ tiền nên giữa Nguyễn Văn T2, Đặng Văn D, Đỗ Văn T1 và anh Sái Văn S đã xảy ra xô xát đánh nhau. Đỗ Văn T1 dùng 01 viên gạch đập 01 nhát trúng đầu anh Sái Văn S, dùng dao bằng kim loại có lưỡi dao dài 33cm, chuôi dao bằng gỗ chém 01 nhát trúng vào phía sau đầu của Nguyễn Văn T2. Đặng Văn D dùng dao bằng kim loại có lưỡi dao dài 23, chuôi dao bằng gỗ dài 11cm chém 01 nhát trúng ngòn tay cái bàn tay trái của Nguyễn Văn T2. Nguyễn Văn T2 dùng chiếc chảo bằng kim loại, đường kính 26cm đập 01 nhát trúng vùng trán trái của Đặng Văn D. Hậu quả, anh Sái Văn S bị tổn hại 4% sức khỏe; Nguyễn Văn T2 bị tổn hại 7% sức khỏe; Đặng Văn D bị tổn hại 4% sức khỏe. Do đó Bản án hình sự sơ thẩm số 70/2023/HSST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang xét xử đối với các bị cáo Đỗ Văn T1, Đặng Văn D và Nguyễn Văn T2 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét thấy, đây là vụ án hình sự được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại theo quy định tại Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét toàn diện và đánh giá đúng tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, xử phạt mức án với từng bị cáo là có căn cứ đúng pháp luật, nhưng trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, ngày 14/11/2023.
Bị hại anh Nguyễn Văn T2 xin rút yêu cầu khởi tố hình sự đối với bị cáo Đỗ Văn T1 và bị cáo Đặng Văn D.
Bị hại anh Đặng Văn D xin rút yêu cầu khởi tố hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T2.
Bị hại ông Sái Văn S xin rút yêu cầu khởi tố hình sự đối với bị cáo Đỗ Văn T1.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay các bị hại anh Nguyễn Văn T2, anh Đặng Văn D và ông Sái Văn S giữ nguyên yêu cầu nêu trên, việc xin rút yêu cầu khởi tố trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc hay đe dọa, phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận việc rút toàn bộ yêu cầu khởi tố vụ án của các bị hại anh Nguyễn Văn T2, anh Đặng Văn D và ông Sái Văn S. Như đề nghị của Trợ giúp viên pháp lý và Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ. Do vậy cần áp dụng khoản 2 Điều 155; điểm d khoản 1 Điều 355; Điều 359 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, hủy bản án sơ thẩm số 70/2023/HSST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang và đình chỉ vụ án. Các bị hại anh Nguyễn Văn T2, anh Đặng Văn D và ông Sái Văn S không có quyền yêu cầu lại. Việc cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án là do các bị hại rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, không phải do lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm.
Đối với hành vi gây thương tích của các bị cáo, kiến nghị với Công an huyện H, tỉnh Bắc Giang xem xét xử lý vi phạm hành chính đối với các bị cáo theo quy định của pháp luật.
[4]. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa các bị hại anh Nguyễn Văn T2, anh Đặng Văn D và ông Sái Văn S đã tự thỏa thuận với các bị cáo và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó HĐXX không xem xét.
[5]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, khoản 1 và điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hính sự:
* Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 (một) chảo bằng kim loại có đường kính 26cm, chuôi bằng kim loại dài 20cm được bọc bằng nhựa màu đen có đầu chuôi bằng nhựa màu cam (đã được niêm phong).
- - 01 (một) con dao bằng kim loại (loại dao 1 lưỡi), lưỡi dao dài 33cm, chuôi dao bằng gỗ (đã được niêm phong).
- - 01 (một) con dao bằng kim loại (loại dao 1 lưỡi), lưỡi dao dài 23cm, chuôi dao bằng gỗ dài 11cm, hai đầu chuôi dao có gắn vòng kim loại (đã được niêm phong).
- - 01 (một) viên gạch màu xám-đen kích thước (11x9x 5,4) cm (đã được niêm phong).
- - 01 (một) khúc gỗ dài 1,05m, đầu to có chu vi 42 cm, đầu nhỏ có chu vi 30cm (đã được niêm phong).
- - 01 (một) mâm bằng kim loại, đường kính 50cm bị móp méo một phần, vị trí bị móp méo có kích thước (30x5) cm (đã được niêm phong).
- - 02 (hai) vật bằng nhựa trắng (dạng cúc áo) có 04 lỗ ở giữa, bề mặt bám dính chất màu nâu đỏ; Nhiều mảnh vụn thủy tinh với nhiều hình dạng, kích thước khác nhau, phần ngoài cổ chai thủy tinh vỡ dập nổi dòng chữ “Tiger” (đã được niêm phong trong một hộp bìa cattong).
* Trả lại cho Nguyễn Văn T2 01 (một) đoạn dây bằng kim loại màu bạc gồm nhiều vòng khép kín kết với nhau thành sợi dài 53cm, bề mặt bám dính chất màu nâu đỏ; 01 (một) đoạn kim loại màu bạc bị uốn cong hình số 2, kích thước (3,5x1) cm (đã được niêm phong trong một hộp bìa cattong).
[6]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ các Điều 135, khoản 3 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm b khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị hại ông Sái Văn S và anh Đặng Văn D mỗi bị hại phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Bị hại anh Nguyễn Văn T2 được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
[7]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Đỗ Minh T6, Đặng Văn D và Nguyễn Văn T2 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[8] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 155; điểm d khoản 1 Điều 355; Điều 359 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 70/2023/HSST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang và đình chỉ vụ án. - Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, khoản 1 và điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hính sự:
- * Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 (một) chảo bằng kim loại có đường kính 26cm, chuôi bằng kim loại dài 20cm được bọc bằng nhựa màu đen có đầu chuôi bằng nhựa màu cam (đã được niêm phong).
- - 01 (một) con dao bằng kim loại (loại dao 1 lưỡi), lưỡi dao dài 33cm, chuôi dao bằng gỗ (đã được niêm phong).
- - 01 (một) con dao bằng kim loại (loại dao 1 lưỡi), lưỡi dao dài 23cm, chuôi dao bằng gỗ dài 11cm, hai đầu chuôi dao có gắn vòng kim loại (đã được niêm phong).
- - 01 (một) viên gạch màu xám-đen kích thước (11x9x 5,4) cm (đã được niêm phong).
- - 01 (một) khúc gỗ dài 1,05m, đầu to có chu vi 42 cm, đầu nhỏ có chu vi 30cm (đã được niêm phong).
- - 01 (một) mâm bằng kim loại, đường kính 50cm bị móp méo một phần, vị trí bị móp méo có kích thước (30x5) cm (đã được niêm phong).
- - 02 (hai) vật bằng nhựa trắng (dạng cúc áo) có 04 lỗ ở giữa, bề mặt bám dính chất màu nâu đỏ; Nhiều mảnh vụn thủy tinh với nhiều hình dạng, kích thước khác nhau, phần ngoài cổ chai thủy tinh vỡ dập nổi dòng chữ “Tiger” (đã được niêm phong trong một hộp bìa cattong).
- * Trả lại cho Nguyễn Văn T2
- 01 (một) đoạn dây bằng kim loại màu bạc gồm nhiều vòng khép kín kết với nhau thành sợi dài 53cm, bề mặt bám dính chất màu nâu đỏ; 01 (một) đoạn kim loại màu bạc bị uốn cong hình số 2, kích thước (3,5x1) cm (đã được niêm phong trong một hộp bìa cattong).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ các Điều 135, khoản 3 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm b khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị hại ông Sái Văn S và anh Đặng Văn D mỗi bị hại phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Bị hại anh Nguyễn Văn T2 được miễn án phí hình sự sơ thẩm. - Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Đỗ Văn T1, Đặng Văn D và Nguyễn Văn T2 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
5. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hải Vinh |
Bản án số 183/2023/HS-PT ngày 17/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 183/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Văn T và đp - CYGTT
