Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 183/2023/HSST

Ngày: 15 - 11 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thành.

Các Hội thẩm nhân dân.

1/ Ông Đặng Tấn Đức;

2/ Bà Nguyễn Thị Thu Thảo.

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Duy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 186/2023/HSST ngày 18 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 204/2023/QĐXXST-HS ngày 26/10/2023 đối với các bị cáo:

  1. Phạm Anh T; sinh năm 1998, tại: Đồng Nai; Hộ khẩu thường trú: 60/2 khu phố H, phường T, TP ., tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: nhân viên; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn T1, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1974; vợ, con: chưa.
  2. Tiền án, tiền sự: không.

    - Bị cáo bắt tạm giữ: 08/09/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C (Cơ sở T30) Công an T8 và có mặt tại phiên tòa.

  3. Lê Quý S; sinh năm 1996, tại: Thanh Hóa; Hộ khẩu thường trú: thôn D, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước; chổ ở hiện nay: tổ D, khu phố C, phường C, TP ., tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Quý H1, sinh năm 1970 và bà Lê Như H2, sinh năm 1974; vợ: Phan Thị H3, sinh năm 1996; con: chưa.
  4. Tiền án, tiền sự: không.

    - Bị cáo bắt tạm giữ: 07/07/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C (Cơ sở T30) Công an T8 và có mặt tại phiên tòa.

  5. Nguyễn Tuấn A; sinh năm 1992, tại: Bến Tre; Hộ khẩu thường trú: 630 ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre; chổ ở hiện nay: 885/9/6A, tổ I, khu phố A, phường T, quận A, TP .; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 09/12; giới tính:

Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Hữu C, sinh năm 1967 và bà Lê Thị Mỹ L, sinh năm 1967; vợ, con: chưa.

Tiền án, tiền sự: không.

- Bị cáo bắt tạm giữ: 07/07/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C (Cơ sở T30) Công an T8 và có mặt tại phiên tòa.

  1. Trần Văn A1; sinh năm 1994, tại: Tây Ninh; Hộ khẩu thường trú: ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 01/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn Q, sinh năm 1944 và bà Hồ Thị Ngọc L1, sinh năm 1947; vợ: Đỗ Thị N, sinh năm 2000; con: có 01 người con sinh năm 2019.
  2. Tiền án, tiền sự: không.

    - Bị cáo bắt tạm giữ: 07/07/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C (Cơ sở T30) Công an T8 và có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại.

  1. Anh Trần Huỳnh P, sinh năm 2000; trú tại: B đường Số A, phường B, quận B, TP . (Vắng mặt).
  2. Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1993; trú tại: 1 đường Số B, phường A, quận G, TP . (Vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Võ Phúc Duy N1, sinh năm 1981; trú tại: C, tổ H, xã N, phường H, TP ., tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).
  2. Anh Trần Gia T3, sinh năm 1987; trú tại: H Tỉnh Lộ 10, phường B, quận B, TP . (Vắng mặt).
  3. Anh Mai Quốc T4, sinh năm 1983; trú tại: C đường S, phường T, quận T, TP . (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Anh T là nhân viên của Công ty R địa chỉ: B đường S, phường T, quận T do chị Hồ Thị T5 là người đại diện theo pháp luật). Ngày 29/6/2023 T đi làm tại Công ty thì thấy 01 con heo đất của chị Nguyễn Thị T2 để trên bàn làm việc và 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter biển số 70H1-475.15 của anh Trần Huỳnh P để tại Công ty nên nảy sinh ý định trộm cắp. Sau khi hết giờ làm, T cùng anh Trần Huỳnh P và anh Nguyễn Quốc H4 ngủ lại công ty. Đến khoảng 0 giờ 25 phút ngày 30/6/2023, T đi vào phòng làm việc lén đến bàn làm việc của chị T2 lấy trộm con heo đất rồi dùng áo khoác để cất giấu mang ra ngoài Công ty đập vỡ và đếm được số tiền trong con heo đất là 5.000.000 đồng, do sợ anh P và anh H4 còn thức nên T chưa lấy trộm xe gắn máy. Đến khoảng 4 giờ cùng ngày, T quay lại công ty và gọi điện thoại cho anh P để mở cửa thì anh P thức dậy dùng chìa khóa điện tử điều khiển từ xa mở cửa rồi tiếp tục đi ngủ. Sau đó, T chờ đến khoảng 6 giờ 50 phút cùng ngày, thấy anh P ngủ say nên lén lút xuống tầng trệt lấy trộm xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter biển số 70H1- 475.15 của anh P rồi bỏ trốn.

Đến khoảng 09 giờ ngày 30/06/2023, T sử dụng tài khoản Facebook tên “Anh T” liên hệ với Facebook tên “Xe không giấy” của Lê Quý S để chào bán xe gắn máy trên, lúc này T gọi điện video cho S để thấy hình ảnh xe gắn máy.

Sau đó, S hẹn T đến quán cà phê “Hy coffee” trên đường P, phường H, Thành phố T, tỉnh Bình Dương để giao dịch. Khoảng 16 giờ cùng ngày, T điều khiển xe gắn máy vừa trộm được đến gặp S và chào bán với giá 7.000.000 đồng. Sau khi xem xe, S nhờ bạn bè kiểm tra thông tin chủ xe và biết T không đứng tên đăng ký xe, không có giấy tờ xe, giá bán xe với giá rẻ hơn rất nhiều so với giá thị trường nên S ý thức được xe gắn máy này có nguồn gốc do phạm tội mà có. Vì vậy, S trả giá xuống còn 6.000.000 đồng thì T đồng ý nên S đưa cho T số tiền 6.000.000 đồng.

Sau khi bán xe, T đã bỏ trốn khỏi địa phương, sống ở nhiều nơi. Khoảng 16 giờ ngày 06/9/2023, T chơi game tại quán N số A L, phường P, quận T thì bị Công an quận T kiểm tra hành chính đưa về trụ sở làm việc. Số tiền bán xe trộm cắp và tiền trộm cắp được trong con heo đất, S đã tiêu xài cá nhân hết.

Sau khi mua xe gắn máy trên, khoảng 15 giờ 30/6/2023 S chụp hình ảnh xe đăng lên Facebook “Xe không giấy” với nội dung “cần bán xe Exciter” thì Nguyễn Tuấn A sử dụng Facebook tên “Anh T6” nhắn tin cho S hỏi mua, thì S báo giá 11.000.000 đồng. Lúc này, Tuấn A yêu cầu bớt 500.000 đồng nhưng S không đồng ý thì Tuấn A nói bớt 200.000 đồng tiền chi phí đi lại, S đồng ý nên Tuấn A chuyển khoản cho S số tiền 800.000 đồng đặt cọc mua xe rồi hai bên hẹn đến quán C2 trên đường P, phường H, Thành phố T, tỉnh Bình Dương để trực tiếp mua bán. Đến khoảng 15 giờ ngày 01/7/2023, cả hai gặp nhau tại điểm hẹn, tại đây S nói xe không có giấy đăng ký xe, không có hợp đồng mua bán xe, giá bán rẻ hơn so với thị trường nên Tuấn A biết được xe gắn máy biển số 70H1- 475.15 do người khác phạm tội mà có nhưng vẫn đồng ý mua để bán lại kiếm lời. Sau đó, Tuấn A chuyển khoản cho S số tiền 10.000.000 đồng. S thu lợi được số tiền 4.800.000 đồng, số tiền này S đã dùng 2.000.000 đồng tiêu xài cá nhân, còn lại 2.800.000 đồng đã giao nộp lại cho Cơ quan điều tra.

Đến khoảng 13 giờ ngày 01/7/2023, Tuấn A rao bán xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter biển số 70H1- 475.15 trên trang Facebook tên “xe không giấy” và để lại số điện thoại 0776.974.xxx thì Trần Văn A1 liên hệ mua xe, thì Tuấn A báo giá bán xe là 12.500.000 đồng và nói xe không có giấy đăng ký, sau đó cả hai hẹn gặp nhau tại nhà số H N, phường T, Quận A để xem xe. Khoảng 07 giờ ngày 02/7/2023 Văn A1 gặp Tuấn A tại điểm hẹn, sau khi xem thấy xe không có giấy đăng ký, không làm hợp đồng mua bán nên Văn A1 biết xe do phạm tội mà có nên đã trả giá xuống còn 12.000.000 đồng, Tuấn A đồng ý. Sau đó, Văn A1 đưa số tiền này cho Tuấn A rồi mang xe về nhà tại ấp H, xã T, huyện T, Tây Ninh. Tuấn A thu lợi được số tiền 1.200.000 đồng.

Sau khi mua xe, Văn A1 nghe em ruột tên Trần Văn Q1 nói có người tên T7 đang cần mua xe nên khoảng 8 giờ ngày 03/7/2023, Văn A1 điều khiển xe gắn máy biển số 70H1- 475.15 đến khu vực làm việc ở khu đất Công ty S, xã T, huyện T, Tây Ninh gặp người tên T7 (chưa rõ lai lịch) bán xe gắn máy trên với giá 13.000.000 đồng. Văn A1 thu lợi số tiền 1.000.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra, Phạm Anh T, Lê Quý S, Nguyễn Tuấn A, Trần Văn A1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Theo kết luận định giá tài sản số 1553/KL-HĐĐGTS-TTHS ngày 27/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban quận T thời điểm định giá ngày 30/6/2023 kết luận: 01 xe gắn máy hiệu Yamaha loại Exciter, màu xám đen cam, biển số 70H1-475.15 trị giá 34.000.000 đồng; 01 con heo đất bằng đất sét, không rõ kích thước không xác định được giá trị tài sản do không rõ hình dáng, kích thước (BL 47-48).

Vật chứng:

- Thu giữ của Nguyễn Tuấn A:

  • 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 3 Pro, số I: 867315043279193, Tuấn A sử dụng liên lạc thực hiện hành vi phạm tội;
  • Số tiền 1.200.000 đồng, là tiền Tuấn A thu lợi từ việc tiêu thụ xe gắn máy biển số 70H1- 475.15;
  • 01 xe gắn máy hiệu Honda Vario màu trắng - xanh, biển số: 60F3- 107.66, số khung: MH1JM5111JK080762, số máy: JM51E1080535. Tuấn A khai nhận xe do một người bạn tên N2 nhờ cất giữ tại nhà, qua khám xét thì Công an thu giữ;
  • 01 xe gắn máy hiệu Honda Airblade màu trắng, biển số: 50N1-124.55, số khung: RLHJF6305FZ315902, số máy: JF63E1315912. Tuấn A khai nhận xe do một người bạn tên N2 nhờ cất giữ tại nhà, qua khám xét thì Công an thu giữ.

- Thu giữ của Lê Quý S:

  • Số tiền 2.800.000 đồng gồm 05 tờ mệnh giá 500.000 đồng, 01 tờ mệnh giá 200.000 đồng, 01 tờ mệnh giá 100.000 đồng, là tiền S thu lợi từ việc tiêu thụ xe gắn máy biển số 70H1- 475.15;
  • Số tiền 2.000.000 đồng là tiền S bán xe gắn máy biển số 70H1- 475.15 còn lại;
  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung số Imei: 350299194173803816, S dùng liên lạc thực hiện hành vi phạm tội;
  • 01 hợp đồng mua bán xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter màu xám - đen - cam biển số: 70H1- 475.15, có chữ ký và chữ viết tên Phạm Anh T và Lê Quý S (kèm hồ sơ vụ án);

- Thu giữ của Trần Văn A1:

  • 01 điện thoại di động hiệu Oppo A57, số Imei: 869945064885433, Văn A1 dùng liên lạc để thực hiện hành vi phạm tội;
  • Số tiền 1.000.000 đồng, là tiền Văn A2 thu lợi từ việc tiêu thụ xe gắn máy biển số 70H1-475.15;

- Thu giữ của anh Trần Huỳnh P: 01 tờ giấy A4 có chứa nội dung chữ viết tay của Phạm Anh T; 01 tờ giấy A4 có chứa nội dung chữ ký của Phạm Anh T (kèm hồ sơ vụ án);

- Thu giữ của chị Nguyễn Thị T2: 01 dĩa CD ghi nhận diễn biến vụ trộm cắp tài sản (kèm hồ sơ vụ án);

- Thu giữ của anh Mai Quốc T4: 01 đĩa CD bên trong ghi nhận hình ảnh vụ trộm cắp tài sản (kèm hồ sơ vụ án);

Các vật chứng trên hiện đang nhập kho theo phiếu nhập kho vật chứng số: 150/PNK ngày 23/8/2023 của Công an quận T.

Về phần dân sự: Anh Trần Huỳnh P yêu cầu bồi thường số tiền 50.000.000 đồng; Chị Nguyễn Thị T2 yêu cầu bồi thường số tiền 5.000.000 đồng;

Tại bản cáo trạng số: 186/CT-VKSQ.TP ngày 18 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . đã truy tố bị cáo Phạm Anh T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Truy tố các bị cáo Lê Quý S, Nguyễn Tuấn A, Trần Văn A1 về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên Tòa:

- Sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, phát biểu ý kiến giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Phạm Anh T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng tù.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt các bị cáo Nguyễn Tuấn A, Trần Văn A1 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm b,i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lê Quý S từ 09 tháng đến 01 năm tù.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý phần trách nhiệm dân sự và vật chứng.

- Các bị cáo Phạm Anh T, Lê Quý S, Nguyễn Tuấn A, Trần Văn A1 thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng truy tố. Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với kiểm sát viên chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.
  2. [2] Tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của người bị hại và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Nên đã có đủ cơ sở để xác định: từ khoảng 0 giờ 25 phút đến khoảng 06 giờ 50 phút ngày 30/06/2023, Phạm Anh T đã 02 lần có hành vi trộm cắp 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter biển số 70H1-475.15, trị giá 34.000.000 đồng của anh Trần Huỳnh P và 01 con heo đất bên trong có số tiền 5.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị T2, tổng giá trị tài sản trộm cắp là: 39.000.000 đồng tại Công ty R số 27 đường S, phường T, quận T thì bị bắt giữ.
  3. Đối với Lê Quý S, Nguyễn Tuấn A, Trần Văn A3 hành vi tiêu thụ xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter biển số 70H1-475.15 do Phạm Anh T trộm cắp được

    mà có. Khi mua xe gắn máy này, các bị cáo Nguyễn Tuấn A, Lê Quý S, Trần Văn A1 biết rõ xe do phạm tội mà có nhưng vẫn đồng ý tiêu thụ để bán lại nhằm thu lợi bất chính, bị cáo Lê Quý S đã thu lợi bất chính số tiền 4.800.000 đồng, bị cáo Nguyễn Tuấn A thu lợi bất chính số tiền 1.200.000 đồng, bị cáo Trần Văn A1 thu lợi bất chính số tiền 1.000.000 đồng thì bị bắt giữ.

    Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . đã truy tố bị cáo Phạm Anh T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Truy tố các bị cáo Lê Quý S, Nguyễn Tuấn A, Trần Văn A1 về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có cơ sở, đúng pháp luật.

  4. [3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Vì vậy, cần thiết phải xử phạt các bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả do các bị cáo gây ra phù hợp với nhân thân của từng bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
  5. [4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: đối với bị cáo Phạm Anh T phạm tội từ 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
  6. [5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Lê Quý S, Nguyễn Tuấn A, Trần Văn A1 còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Lê Quý S tác động gia đình bồi thường số tiền 2.000.000 đồng bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  7. [5] - Đối với 01 xe gắn máy hiệu Honda Vario biển số 60F3- 107.66 và 01 xe gắn máy hiệu Honda Airblade biển số 50N1-124.55 Tuấn A giữ dùm cho một người bạn tên N2 (chưa rõ lai lịch). Do không biết rõ nhân thân, lai lịch của N2 nên chưa làm việc được. Hiện Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh, điều tra khi nào làm việc được sẽ xử lý sau là phù hợp.

    - Đối với người tên T7 mua xe gắn máy biển số 70H1-475.15 của Trần Văn A1, do không biết rõ nhân thân, lai lịch nên chưa làm việc được. Hiện Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh, điều tra khi nào làm việc được sẽ xử lý sau là phù hợp.

    - Đối với Trần Văn Q1 nói cho Văn A1 biết T7 cần mua xe gắn máy. Tuy nhiên, qua xác minh Q1 không có mặt tại địa phương nên chưa làm việc được. Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh, điều tra khi nào làm việc được sẽ xử lý sau là phù hợp.

  8. [6] Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Huỳnh P yêu cầu bị cáo Phạm Anh T phải có trách nhiệm bồi thường số tiền: 50.000.000 đồng. Chị Nguyễn Thị T2 yêu cầu bị cáo Phạm Anh T bồi thường số tiền 5.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo Lê Quý S đồng ý bồi thường cho anh P số tiền 2.000.000 đồng, Phạm Anh T đồng ý bồi thường cho anh P số tiền 48.000.000 đồng và đồng ý bồi thường cho
  9. chị T2 số tiền 5.000.000 đồng. Xét thấy, việc thỏa thuận bồi thường giữa những người bị hại và các bị cáo Phạm Anh T, Lê Quý S là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp pháp luật, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

  10. [7] Về xử lý vật chứng:
  11. - Thu giữ của Nguyễn Tuấn A:

    • Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 3 Pro, số I: 867315043279193, Tuấn A sử dụng liên lạc thực hiện hành vi phạm tội. Xét đây là phương tiện phạm tội, nên cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
    • Đối với Số tiền 1.200.000 đồng, là tiền Tuấn A thu lợi từ việc tiêu thụ xe gắn máy biển số 70H1- 475.15. Cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
    • Đối với 01 xe gắn máy hiệu Honda Vario màu trắng - xanh, biển số: 60F3- 107.66, số khung: MH1JM5111JK080762, số máy: JM51E1080535. Tuấn A khai nhận xe do một người bạn tên N2 nhờ cất giữ tại nhà, qua khám xét thì Công an thu giữ;
    • Giám định số khung, số máy trên không bị đục. Qua xác minh xe gắn máy trên do anh Võ Phúc Duy N1, thường trú: 371/A2, Tổ H, xã N, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai đứng tên chủ sở hữu. Anh N1 cho biết đã bán xe gắn máy cho một người (không rõ lai lịch) từ năm 2019 và không làm thủ tục sang tên. Giao cho Chi Cục Thi Hành án dân sự quận Tân Phú, TP . đăng tìm chủ sở hữu, thời hạn 06 tháng. Nếu không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

    • Đối với 01 xe gắn máy hiệu Honda Airblade màu trắng, biển số: 50N1- 124.55, số khung: RLHJF6305FZ315902, số máy: JF63E1315912. Tuấn A khai nhận xe do một người bạn tên N2 nhờ cất giữ tại nhà, qua khám xét thì Công an thu giữ.
    • Qua xác minh được biết xe máy do anh Trần Gia C1, thường trú: 899 Tỉnh Lộ 10, phường B, quận B đứng tên chủ sở hữu. Qua xác minh tại địa chỉ trên anh T3 đã bán nhà đi khỏi địa phương, bỏ đi đâu không rõ. Giao cho Chi Cục Thi Hành án dân sự quận Tân Phú, TP . đăng tìm chủ sở hữu, thời hạn 06 tháng. Nếu không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

    - Thu giữ của Lê Quý S:

    • Đối với số tiền 2.800.000 đồng gồm 05 tờ mệnh giá 500.000 đồng, 01 tờ mệnh giá 200.000 đồng, 01 tờ mệnh giá 100.000 đồng, là tiền S thu lợi từ việc tiêu thụ xe gắn máy biển số 70H1- 475.15. Cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
    • Đối với số tiền 2.000.000 đồng là tiền S bán xe gắn máy biển số biển số 70H1- 475.15 còn lại. Cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
    • Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung số Imei: 350299194173803816, S dùng liên lạc thực hiện hành vi phạm tội. Xét đây là phương tiện phạm tội, nên cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
    • Đối với 01 hợp đồng mua bán xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter màu xám - đen - cam biển số: 70H1- 475.15, có chữ ký và chữ viết tên Phạm Anh T và Lê Quý S (kèm hồ sơ vụ án). Lưu hồ sơ vụ án.

    - Thu giữ của Trần Văn A1:

    • Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo A57, số Imei: 869945064885433, Văn A1 dùng liên lạc để thực hiện hành vi phạm tội. Xét đây là phương tiện phạm tội, nên cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
    • Đối với số tiền 1.000.000 đồng, là tiền Văn A2 thu lợi từ việc tiêu thụ xe gắn máy biển số 70H1- 475.15. Cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

    - Thu giữ của anh Trần Huỳnh P: 01 tờ giấy A4 có chứa nội dung chữ viết tay của Phạm Anh T; 01 tờ giấy A4 có chứa nội dung chữ ký của Phạm Anh T (kèm hồ sơ vụ án). Lưu hồ sơ vụ án.

    - Thu giữ của chị Nguyễn Thị T2: 01 dĩa CD ghi nhận diễn biến vụ trộm cắp tài sản (kèm hồ sơ vụ án). Lưu hồ sơ vụ án.

    - Thu giữ của anh Mai Quốc T4: 01 đĩa CD bên trong ghi nhận hình ảnh vụ trộm cắp tài sản (kèm hồ sơ vụ án). Lưu hồ sơ vụ án.

  12. [8] Án phí: Các bị cáo Phạm Anh T, Lê Quý S, Nguyễn Tuấn A, Trần Văn A1 phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo Phạm Anh T phải nộp 2.650.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bị cáo Lê Quý S phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. [1] Tuyên bố: bị cáo Phạm Anh T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Các bị cáo Lê Quý S, Nguyễn Tuấn A, Trần Văn A1 phạm tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
  2. [2] Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
    1. [2.1] Xử phạt bị cáo Phạm Anh T 02 (hai) năm tù.
    2. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 08/09/2023).

  3. [3] Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
    1. [3.1] Xử phạt: bị cáo Nguyễn Tuấn A 01 (một) năm tù.
    2. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 07/07/2023).

    3. [3.3] Xử phạt: bị cáo Trần Văn A1 01 (một) năm tù.
    4. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 07/07/2023).

  4. [4] Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm b,i,s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
    1. [4.1] Xử phạt: bị cáo Lê Quý S 09 (chín) tháng tù.
    2. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 07/07/2023).

  5. [5] Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự:
    • - Buộc bị cáo Phạm Anh T phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Trần Huỳnh P số tiền: 48.000.000 đồng.
    • - Buộc bị cáo Phạm Anh T phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Nguyễn Thị T2 số tiền: 5.000.000 đồng.
    • - Buộc bị cáo Lê Quý S phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Trần Huỳnh P số tiền: 2.000.000 đồng.

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành khoản tiền nêu trên thì phải chịu lãi suất phát sinh do chậm trả được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, nếu không có thỏa thuận thì thực hiện tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

  6. [6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
    • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 3 Pro, số I: 867315043279193; Số tiền 1.200.000 đồng thu giữ của Nguyễn Tuấn A; số tiền 2.800.000 đồng gồm 05 tờ mệnh giá 500.000 đồng, 01 tờ mệnh giá 200.000 đồng, 01 tờ mệnh giá 100.000 đồng; số tiền 2.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Samsung số Imei: 350299194173803816 thu giữ của Lê Quý S; 01 điện thoại di động hiệu Oppo A57, số I: 869945064885433, số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của Trần Văn A1.
    • - Lưu hồ sơ vụ án: 01 hợp đồng mua bán xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter màu xám - đen - cam biển số: 70H1- 475.15, có chữ ký và chữ viết tên Phạm Anh T và Lê Quý S; 01 tờ giấy A4 có chứa nội dung chữ viết tay của Phạm Anh T; 01 tờ giấy A4 có chứa nội dung chữ ký của Phạm Anh T; 02 dĩa CD ghi nhận diễn biến vụ trộm cắp tài sản.
    • - Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, TP . đăng tìm chủ sở hữu, thời hạn 06 tháng. Nếu không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với: 01 xe gắn máy hiệu Honda Vario màu trắng - xanh, biển số: 60F3- 107.66, số khung: MH1JM5111JK080762, số máy: JM51E1080535; 01 xe gắn máy hiệu Honda Airblade màu trắng, biển số: 50N1- 124.55, số khung: RLHJF6305FZ315902, số máy: JF63E1315912.
    • - Tiếp tục tạm giữ số tiền: 2.000.000 đồng mà Lê Quý S đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000237 ngày 14/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, TP . để đảm bảo cho việc bồi thường cho anh Trần Huỳnh P.

    (Các vật chứng trên hiện đang nhập kho theo phiếu nhập kho vật chứng số: 150/PNK ngày 23/8/2023 của Công an quận T).

  7. [7] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
    • - Buộc các bị cáo Phạm Anh T, Lê Quý S, Nguyễn Tuấn A, Trần Văn A1. Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
    • - Buộc bị cáo Phạm Anh T phải nộp: 2.650.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
    • - Buộc bị cáo Lê Quý S phải nộp: 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  8. [8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Phạm Anh T, Lê Quý S, Nguyễn Tuấn A, Trần Văn A1 có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Những người Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
  9. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6; 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Q. Tân Phú;
  • - THADS quận Tân Phú;
  • - Công an Q. Tân Phú;
  • - Công an TP. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp TP . HCM;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Đức Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 183/2023/HSST ngày 15/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 183/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger