TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI *** | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ***** |
Bản án số: 183/2024/HSST Ngày: 12/07/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG.
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hồng Lý.
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Thông.
- Ông Phùng Văn Tầu.
- - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Giang - Kiểm sát viên
Ngày 12 tháng 07 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân quận Hà Đông, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 145/2024/TLST-HS ngày 31/05/2024 đối với bị cáo:
NGUYỄN DOÃN D, sinh năm 1983 tại Hà Nội; Nơi ĐKHKTT: Số B, tổ D, khu T, thị trấn X, huyện C, thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; con ông Nguyễn Doãn C và con bà Nguyễn Thị M, có vợ là Hoàng Thị D và 03 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2014; theo danh chỉ bản số [...] ngày 04/04/2024 tại Công an quận H, thành phố Hà Nội bị cáo không có tiền sự; Tiền án: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 246/2015/HSST ngày 17/7/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù, ra trại ngày 26/3/2018, chưa chấp hành phần bồi thường, chưa được xóa án tích.
Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 188/2011/HSST ngày 17/11/2011 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì xử phạt 26 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, đã được xóa án tích.
Ra đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/03/2024 đến nay (hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H); Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Công ty T5.
Địa chỉ: Tầng G, 8 và 10 Tòa nhà phụ nữ số 20 N, phường T, Quận B, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Ngọc K - Tổng giám đốc.
Người đại diện theo uỷ quyền: ông Nguyễn Văn Đ – chuyên viên an ninh công ty.
Địa chỉ liên hệ: tổ A, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. (theo văn bản uỷ quyền số 115/2024/GUQ-SE ngày 27/06/2024). (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Hoàng Thị D, sinh năm 1984.
Hiện trú tại: Số B, tổ D, khu T, thị trấn X, huyện C, thành phố Hà Nội. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 4 năm 2020, Nguyễn Doãn D1 muốn mua điện thoại nhưng không đủ tiền nên nảy sinh ý định làm giả Chứng minh thư nhân dân và Giấy phép lái xe mang tên người khác để đi mua điện thoại trả góp. Thực hiện ý định trên, D1 nhờ một người tên H (chưa rõ nhân thân) là bạn quen biết xã hội làm giả Chứng minh thư nhân dân và Giấy phép lái xe cho D1, H đồng ý. Sau đó, D1 chụp ảnh chân dung (2x3)cm đưa cho H. Một thời gian sau, H đưa cho D1 01 CMTND số [...] mang tên Nguyễn Anh T (sinh ngày 25/12/1979; nguyên quán: L, S, Hà Nội; Nơi đăng ký HKTT: số D Q, H, Hà Nội do Công an H cấp ngày 25/7/2015) và 01 GPLX hạng E số [...] mang tên Nguyễn Anh T (sinh ngày 25/12/1979; Nơi cư trú: số D Q, H, Hà Nội do Vụ trưởng Vụ QLPT và NL cấp ngày 08/6/2019) (H không lấy tiền của D1). Ngày 06/5/2020, D1 mang Chứng minh thư nhân dân và Giấy phép lái xe trên đến cửa hàng Đ1 ở tổ dân phố B, phường V, quận H, thành phố Hà Nội để làm hồ sơ mua điện thoại trả góp. Tại đây, D1 hỏi mua trả góp chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Note 10 trị giá 12.490.000 đồng. Nhân viên của cửa hàng tư vấn mua trả góp chiếc điện thoại trên, D1 phải trả trước 1/3 giá trị tài sản tương đương với số tiền 3.747.000 đồng, số tiền còn lại 9.008.000 đồng thì cửa hàng sẽ liên hệ với Công ty T5 (Công ty T5), địa chỉ trụ sở chính tại Tầng G, 8 và 10 Tòa nhà phụ nữ số 20 N, phường T, Quận B, thành phố Hồ Chí Minh làm thủ tục cho vay trả góp. Sau đó, chị Mai Thị T1 sinh năm 1996, trú tại tiểu khu A, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sơn La là nhân viên của Công ty T5 hướng dẫn D1 làm thủ tục vay trả góp không cần tài sản thế chấp mà chỉ cần cung cấp Chứng minh thư nhân dân và Giấy phép lái xe để Công ty T5 chụp lại và làm thủ tục. D1 nói dối chị T1 tên là Nguyễn Anh T rồi đưa Chứng minh thư nhân dân, Giấy phép lái xe giả mang tên Nguyễn Anh T cho chị T1 xem và đối chiếu. Chị T1 thấy thông tin trùng khớp nên tin tưởng làm thủ tục cho D1 vay của Công ty T5 số tiền 9.008.000 đồng trong vòng 06 tháng, mỗi tháng phải trả số tiền gốc và lãi là 1.513.000 đồng. Chị T1 đưa cho D1 bản “Đề nghị vay vốn kiêm bản đăng ký sử dụng dịch vụ điện tử” của Công ty T5 với thông tin người đề nghị vay là Nguyễn Anh T, D1 xem và ký, ghi dòng họ tên Nguyễn Anh T dưới mục “Xác nhận của người đề nghị” trên tờ giấy đề nghị vay vốn trên. Sau khi xong thủ tục vay vốn, D1 thanh toán số tiền 3.474.000 đồng cho nhân viên cửa hàng rồi mang điện thoại về sử dụng mà không thanh toán số tiền gốc, lãi hàng tháng cho Công ty T5.
Ngày 17/10/2020, Công ty T5 có đơn tố giác đến Công an quận H sự việc Nguyễn Doãn D1 chiếm đoạt số tiền 9.197.450 đồng tiền gốc, lãi của Công ty. Sau khi tiếp nhận tố giác, Cơ quan CSĐT Công an quận H đã thu thập các tài liên quan và thu giữ của chị Hoàng Thị D (là vợ của D1) giao nộp gồm:
- 01 (một) Giấy chứng minh thư nhân dân số [...] mang tên Nguyễn Anh T sinh ngày 25/12/1979; nguyên quán: L, S, Hà Nội; Nơi đăng ký HKTT: số D Q, H, Hà Nội do Công an H cấp ngày 25/7/2015.
- 01 (một) Giấy chứng minh thư nhân dân số [...] mang tên Nguyễn Doãn D1 sinh ngày 03/4/1983; nguyên quán H, C, Hà Nội; Nơi đăng ký HKTT: thị trấn X, C, Hà Nội.
- Số tiền 9.197.500 đồng tiền Việt Nam đồng.
Ngày 26/3/2024, D1 đến Cơ quan điều tra xin đầu thú khai nhận hành vi của bản thân như đã nêu trên.
Tại Bản Kết luận giám định số 8028/C09-P5 ngày 11/3/2021 của V - Bộ C1, kết luận:
- Mẫu in giấy chứng minh thư nhân dân số [...] mang tên Nguyễn Doãn D1 là mẫu in thật;
- Mẫu in giấy chứng minh thư nhân dân số [...] mang tên Nguyễn Anh T là mẫu in giả.
Tại bản Cáo trạng số 162/CT-VKS-HĐ ngày 30/05/2024, của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông đã truy tố bị cáo Nguyễn Doãn Duy về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 174, điểm c khoản 2 Điều 341 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Doãn D1 về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm c khoản 2 Điều 341; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h (tái phạm) khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Nguyễn Doãn D1 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Buộc D1 phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là từ 30 đến 39 tháng tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo D1.
Về trách nhiệm dân sự: Công ty T5 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự nữa nên không xem xét trong vụ án này.
Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định truy tố của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Doãn D1 khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, bản kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở kết luận: Ngày 06/5/2020, Nguyễn Doãn D1 có hành vi làm giả Chứng minh thư nhân dân và Giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Anh T đem đến cửa hàng Đ1, phường V, quận H, thành phố Hà Nội để làm hồ sơ mua trả góp chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Note 10 trị giá 12.490.000 đồng. Sau khi kiểm tra thông tin trên Chứng minh thư nhân dân và Giấy phép lái xe trùng khớp, D1 được làm hồ sơ vay trả góp số tiền 9.008.000 đồng của Công ty T5. Sau đó, D1 đã chiếm đoạt số tiền 9.197.450 đồng là tiền gốc, lãi của Công ty T5. Hành vi nêu trên của Nguyễn Doãn D1 đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”, tội phạm và hình phạt đã được quy định tại khoản 1 Điều 174 và điều 341 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do quá trình thực hiện hành vi phạm tội D1 đã có hành vi nhờ làm giả Chứng minh thư nhân dân và Giấy phép lái xe để thực hiện hành vi lừa đảo là thuộc trường hợp “Làm từ 02 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác đến 05 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác”, đây là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt theo điểm c khoản 2 Điều 341 của Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố Nguyễn Doãn D1 về các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 và “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”, theo điểm c khoản 2 Điều 341 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mà nó còn xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý hành chính, xâm phạm sự hoạt động bình thường và uy tín của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội; xâm phạm đến các lợi ích của Nhà nước, của các tổ chức và của công dân; gây mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do đó cần phải có mức hình phạt tù nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: nhân thân bị cáo D1 có 01 tiền án chưa được xóa, nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm” nên khi quyết định hình phạt cần áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo D1.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi vụ án bị phát hiện bị cáo đã tự giác ra cơ quan điều tra để đầu thú; tại cơ quan điều tra cũng như trước phiên tòa bị cáo đã khai nhận thành khẩn toàn bộ hành vi phạm tội của mình với thái độ ăn năn hối cải; tự nguyện tác động đến gia đình mình để gia đình nộp tiền bồi thường khắc phục toàn bộ hậu quả cho hành vi phạm tội của mình, nên được đại diện của bị hại ghi nhận có đơn xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; có 02 con còn nhỏ, hiện tại là lao động chính nuôi gia đình; Bị cáo còn có bác ruột là ông Nguyễn Doãn T2 là liệt sĩ chống Mỹ; có ông nội là ông Nguyễn Doãn S đã có thời gian phục vụ trong quân đội, tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng 3; có ông ngoại là ông Nguyễn Văn T3 là cán bộ tiền khởi nghĩa, được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng 3. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử xét thấy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo yên tâm cải tạo sớm trở thành người tốt, có ích cho xã hội.
[6] Về quyết định hình phạt: Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Với tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo thì cần phải có mức hình phạt tù phù hợp, cách ly bị cáo khỏi xã hội 1 thời gian để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[7]. Về tổng hợp hình phạt: Do bị cáo phạm nhiều tội nên khi quyết định hình phạt cần áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự để tống hợp hình phạt đối với bị cáo D1.
[8] Về hình phạt bổ sung: là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 174 và khoản 4 Điều 341 của Bộ luật hình sự 2015. Song do bị cáo không có việc làm ổn định và không có điều kiện về kinh tế nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo D1.
[9]. Về các vấn đề khác: Đối với người nam giới tên H là người Duy nhờ làm giả Chứng minh thư nhân dân và Giấy phép lái xe. Quá trình điều tra đã làm rõ được: H là bạn quen biết ngoài xã hội, D1 không rõ là tên tuổi địa chỉ ở đâu, ngoài lời khai của D1 không có tài liệu nào chứng minh. Cơ quan CSĐT Công an quận H tiếp tục xác minh khi nào có căn cứ xử lý sau, nên Hội đồng xét xử không xét.
[10] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án, chị Hoàng Thị D là vợ của bị cáo Nguyễn Doãn D1 đã tự nguyện nộp số tiền là 9.197.500 đồng để bồi thường thay cho bị cáo. Cơ quan điều tra đã trả lại Công ty T5 số tiền 9.197.500 đồng do ông Nguyễn Văn Đ là người đại diện theo uỷ quyền của công ty, ông Đ đã nhận đủ số tiền trên. Tại cơ quan điều tra và tại đơn xin xét xử vắng đại diện của Công ty T5 không có yêu cầu gì về phần dân sự nữa, nên Hội đồng xét xử không xét trong vụ án này.
Đối với số tiền 9.197.500 đồng mà chị Hoàng Thị D là vợ của bị cáo Nguyễn Doãn D1 đã tự nguyện nộp để bồi thường cho người bị hại là Công ty T5, tại phiên Tòa chị D không có yêu cầu bị cáo D1 phải hoàn trả chị số tiền trên, nên Hội đồng xét xử không xét.
[11] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Doãn D1 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Doãn D1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm c khoản 2 Điều 341; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h (tái phạm) khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Nguyễn Doãn D1 09 (chín) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Buộc Nguyễn Doãn D1 phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 39 (ba mươi chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/03/2024.
3. Áp dụng khoản 2 Điều 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội (quy định về án phí, lệ phí Tòa án).
* Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo Nguyễn Doãn D1 phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại Công ty T5 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Hoàng Thị D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đào Thị Hồng Lý |
Bản án số 183/2024/HSST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản; làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 183/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Doãn D
