Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÁI BÈ

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 183/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 11/7/2024

“V/v tranh chấp xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Tân

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Quách Trung Sơn
  2. Ông Nguyễn Phước Tường

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thùy Dung - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

Ngày 11 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 731/2023/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Kiều N, sinh năm 1986.
  2. Địa chỉ: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh T.

  3. Bị đơn: Anh Trương Tấn T, sinh năm 1982.
  4. Địa chỉ: ấp 3, xã A, huyện C, tỉnh T.

(Chị N xin vắng mặt, anh T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn chị Lê Thị Kiều N tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án trình bày: Chị và anh Trương Tấn T tự nguyện xác lập quan hệ vợ chồng với nhau vào năm 2019, có đăng ký kết hôn. Anh chị chung sống hạnh phúc được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẩn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau cuộc sống chung không hạnh phúc, hiện tại đã ly thân. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh T nên yêu cầu được ly hôn. Về con chung: có 01 con chung tên Trương Lê Khởi An sinh ngày 25/8/2019. Khi ly hôn chị yêu cầu nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về T sản chung và nợ chung: Không có yêu cầu Tòa giải quyết.

- Bị đơn anh Trương Tấn T đã được tống đạt đầy đủ văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt và không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các T liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng: Nguyên đơn chị Lê Thị Kiều N có đơn xin giải quyết vắng mặt. Bị đơn anh Trương Tấn T dù được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Kiều N và anh Trương Tấn T tự nguyện xác lập quan hệ vợ chồng với nhau có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Trong quá trình chung sống chị N xác định vợ chồng chị sống hạnh phúc được 01 năm sau khi cưới thì phát sinh mâu thuẩn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, cuộc sống chung không hạnh phúc và chị về nhà cha mẹ ruột sống cho đến nay. Đối với anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến gì về việc chị N xin ly hôn chứng tỏ anh không còn quan tâm đến quan hệ vợ chồng, không mong muốn đoàn tụ cho thấy quan hệ hôn nhân giữa anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cho chị N được ly hôn với anh T là phù hợp Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
  3. Về con chung: anh chị có 01 con chung tên Trương Lê Khởi An sinh ngày 25/8/2019 hiện đang sống với chị N. Do đó để tránh xáo trộn cuộc sống của con chung nên Hội đồng xét xử xem xét giao cháu An cho chị N nuôi dưỡng là phù hợp Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con chị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
  4. Về T sản chung và nợ chung: Chị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
  5. Về án phí: Chị Lê Thị Kiều N phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

  1. Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị Kiều N được ly hôn với anh Trương Tấn T.
  2. Về con chung: giao 01 con chung tên Trương Lê Khởi An sinh ngày 25/8/2019 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị N không có yêu cầu.
  3. Anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật.

  4. Về án phí:
  5. - Chị Nguyễn Lê Thị Kiều N phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm. Chị đã nộp 300.000đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0014637 ngày 28/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè xem như thi hành xong.

  6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được Tòa án tống đạt hợp lệ bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
  7. Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Cái Bè;
  • - Chi cục THADS huyện Cái Bè;
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Minh Tân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 183/2024/HNGĐ-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp xin ly hôn

  • Số bản án: 183/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NƯƠNG - TÀI
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger