TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 183/2024/HNGĐ-ST Ngày: 10-6-2024 V/v: “Tranh chấp ly hôn, con chung". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy.
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Chánh – Cán bộ hưu trí.
- 2. Bà Thiều Thị Phi Loan – Cán bộ hưu trí.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Thông - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 2887/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn,con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 177/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 252/2024 ngày 31/5/2024 giữa:
- Nguyên đơn: Bà Võ Diễm C, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Nhà không số, ấp T, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Lê Hoàng Công D, sinh năm 1986.
Địa chỉ: 6, đường C, khu phố A, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Các đương sự có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các biên bản hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn bà Võ Diễm C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: bà và ông D tìm hiểu, kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đã được Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố B cấp giấy chứng nhận kết hôn số 71/2017 ngày 13/9/2017. Sau khi kết hôn một thời gian thì vợ chồng bà bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống. Nguyên nhân là do quan điểm sống bất đồng, không tìm được tiếng nói chung, ông D sử dụng ma túy, vì vậy thường xuyên cãi vã, không tôn trọng nhau và quan tâm đến cuộc sống của nhau. Vợ chồng bà đã sống ly thân khoảng 03 năm nay. Nay bà xác định không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin được ly hôn với ông D.
Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Võ Trường A, sinh ngày 07/7/2017. Ly hôn, bà đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai, các biên bản hòa giải và tại phiên tòa bị đơn ông Lê Hoàng Công D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà C chung sống tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào năm 2017 tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố B như bà C trình bày là đúng. Sau một thời gian chung sống thì hai vợ chồng ông có phát sinh một số mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, giữa mẹ chồng và con dâu xảy ra bất hòa. Ông đã tìm nhiều cách để giải quyết nhưng không được. Tình cảm vợ chồng dần bị phai nhạt. Khoảng từ 03 năm nay thì bà C chuyển ra ngoài sống cùng con chung, vợ chồng không còn sống chung. Ông xác định ông vẫn còn tình cảm với bà C nên không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Võ Trường A, sinh ngày 07/7/2017. Ly hôn, ông đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, không yêu cầu bà C cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa là phù hợp, đúng với quy định của pháp luật. Các đương sự thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Xét cuộc sống vợ chồng của bà C và ông D không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà C yêu cầu xin ly hôn với ông D là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014. Về con chung: Giao con chung tên Lê Võ Trường A, sinh ngày 07/7/2017 cho bà C trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, tạm thời ông D không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không đặt ra xem xét giải quyết. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà C phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự: Bà Võ Diễm C yêu cầu được ly hôn với ông Lê Hoàng Công D, yêu cầu nuôi con chung. Căn cứ vào Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp ly hôn, con chung”; bà Võ Diễm C là nguyên đơn, ông Lê Hoàng Công D là bị đơn.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Lê Hoàng Công D hiện đang cư trú tại phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
[3] Về nội dung khởi kiện:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Diễm C và ông Lê Hoàng Công D kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đã được Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố B cấp giấy chứng nhận kết hôn số 71/2017 ngày 13/9/2017 nên căn cứ Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xác định là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn được một thời gian thì hai vợ chồng bà phát sinh nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống. Nguyên nhân do quan điểm sống của hai vợ chồng bất đồng, không tìm được tiếng nói chung, vì vậy thường xuyên cãi vã, không tôn trọng lẫn nhau. Hai vợ chồng bà đã sống ly thân khoảng 3 năm nay. Nay bà C xác định tình cảm không còn, hạnh phúc hôn nhân không đạt được nên xin ly hôn với ông D.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại các bản tự khai, các biên bản hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn ông D cũng thừa nhận trong cuộc sống hôn nhân của hai vợ chồng có xảy ra một số mâu thuẫn, nguyên nhân là do nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, mẹ chồng và con dâu xảy ra một số mẫu thuẫn. Ông đã tìm nhiều cách để giải quyết nhưng không được. Tình cảm vợ chồng dần bị phai nhạt. Khoảng từ 03 năm nay thì bà C chuyển ra ngoài sống cùng con chung, vợ chồng không còn sống chung. Việc bà C cho rằng ông sử dụng ma túy là không có cơ sở. Ông xác định vẫn còn tình cảm với bà C nên không đồng ý ly hôn.
Ông D không không đồng ý ly hôn tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải nhiều lần tạo cơ hội cho các bên đoàn tụ nhưng ông D vẫn không đưa ra được phương án nào để vợ chồng đoàn tụ thể hiện việc ông D không tích cực trong việc hòa giải, hàn gắn quan hệ vợ chồng với bà C.
Kết quả xác minh tình trạng hôn nhân giữa bà C và ông D tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố B thể hiện nội dung: “Địa phương không nắm được mâu thuẫn giữa vợ chồng bà C và ông D. Không thấy bà C và ông D trình báo gì”.
Từ đó cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng bà C và ông D là có thật, đều được các bên thừa nhận, mục đích hôn nhân không đạt được, các bên đã sống ly thân trong một thời gian dài. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà C, giải quyết cho bà C được ly hôn với ông D để trả tự do cả hai là phù hợp.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Võ Trường A, sinh ngày 07/7/2017. Ly hôn, bà C có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.
Quá trình giải quyết vụ án ông D cũng có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc và giáo dục con chung. Không yêu cầu bà C cấp dưỡng nuôi con.
Qua xem xét hồ sơ vụ án, lời khai của các bên thể hiện con chung hiện đang sống cùng bà C. Quá trình giải quyết vụ án bà C cung cấp cho Tòa án 01 Bản xác nhận mức lương hàng tháng của bà tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn S là: 7.560.000 đồng (Bảy triệu, năm trăm sáu mươi nghìn đồng).
Ông D trình bày ông làm công việc kinh doanh tự do nên không thể cung cấp được bản xác nhận lương. Tuy nhiên, dựa vào bản sao kê tài khoản của ông thì hàng tháng thu nhập trung bình của ông là khoảng 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng). Hiện tại ông đang sống chung cùng mẹ. Do đó ông đủ điều kiện để chăm sóc tốt cho con chung hơn bà C.
Xét thấy, điều kiện chăm sóc con chung của các bên đều đảm bảo. Tuy nhiên, hiện nay cháu A đang sống cùng bà C ổn định, phát triển bình thường về thể chất và tinh thần. Bà C có thu nhập ổn định đủ để chăm sóc được con chung. Hơn nữa, cháu A hiện đang nhỏ nên rất cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ. Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn định của con chung, không làm thay đổi môi trường sống của trẻ xét thấy cần giao con chung cho bà C tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Tạm thời ông D không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các bên trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
[4] Về án phí: Bà C phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 203, Điều 220, Điều 266, Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015;
Áp dụng Điều 9, Điều 11, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Diễm C. Bà Võ Diễm C được ly hôn với ông Lê Hoàng Công D.
- Về con chung: Giao con chung tên Lê Võ Trường A, sinh ngày 07/7/2017 cho bà C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời ông D không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con khi cần thiết các bên được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có, không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Bà Võ Diễm C phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ tiền vào tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà C đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001516 ngày 04/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa. Bà C đã nộp xong án phí.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Thúy |
Bản án số 183/2024/HNGĐ-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn, con chung
- Số bản án: 183/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chi - Danh
