Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 183/2024/HS-ST

Ngày: 05-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đậu Thị Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Thắm;
  2. Bà Nguyễn Kim Lý.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Triều Mến - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 194/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

  1. Họ và tên: Bùi Thị Hồng Y, sinh năm 1984, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số nhà A, đường A, tổ F, ấp B, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Bùi Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1958; bị cáo có chồng là Nguyễn Trung L (là bị cáo trong vụ án) và 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/3/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  2. Họ và tên: Nguyễn Trung L, sinh năm 1984, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số nhà A, đường A, tổ F, ấp B, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Thợ hồ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; bị cáo có cha là Nguyễn Văn M, sinh năm 1955 và mẹ là Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1955; bị cáo có vợ: Bùi Thị Hồng Y (là bị cáo trong vụ án) và 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/3/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2

- Bị hại: Nguyễn Thị Hữu H, sinh năm 1970; Hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Thị Hồng Y và Nguyễn Trung L là vợ chồng, cùng sinh sống ở ấp B, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Y và bà Nguyễn Thị Hữu H quen biết nhau do Y thường xuyên cho bà H vay tiền.

Từ tháng 8/2022 đến tháng 12/2022, Y đã cho bà H vay tiền 03 lần với tổng số tiền là 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng). Do tin tưởng nhau nên cả hai không viết giấy tờ mà chỉ cho vay bằng miệng. Sau khi vay tiền, bà H có đóng tiền lãi cho Y nhiều lần với tổng số tiền là 6.500.000 đồng (sáu triệu năm trăm nghìn đồng). Từ tháng 02/2023, bà H không đóng tiền lãi và trả tiền gốc cho Y nên Y thường xuyên tìm bà H để đòi lại số tiền đã cho vay nhưng bà H không trả.

Chiều ngày 13/11/2023, Y nghe được thông tin là bà H sẽ được nhận lương tại Công ty G thuộc ấp D, xã A, thị xã B (nay là khu phố D, phường A, thành phố B) nên Y rủ L đi tìm bà H đòi nợ. L đồng ý và điều khiển xe mô tô hiệu Honda SH Mode, biển số 59Y3-647.00 chở Y đi đến ngã ba giao nhau giữa đường ĐH609 và đường không tên cách Công ty G khoảng 300 mét để đợi bà H.

Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày 13/11/2023, sau khi tan làm, bà H điều khiển xe mô tô hiệu Wave, biển số 55Y4-3275 đi đến ngã ba đường thì L điều khiển xe mô tô chở Y chặn đầu xe mô tô của bà H lại. Lúc này, 02 xe mô tô dừng lại song song nhau, L thò tay qua chìa khoá xe rồi tắt máy xe mô tô biển số 55Y4-3275 và rút lấy chìa khóa xe mô tô của bà H. Lúc này, Y nói bà H trả tiền cho Y nhưng bà H nói chưa có tiền lương nên chưa có tiền trả và nói L trả chìa khóa xe cho bà H nhưng L không trả. Bà H bước xuống xe mô tô thì Y cũng bước xuống xe và dùng tay đánh 01 cái vào đầu bà H nhưng do bà H đầu đang đội mũ bảo hiểm nên không bị thương tích gì. Bà H lo sợ bị Y đánh nên bỏ đi bộ đến tiệm tạp hoá cách ngã ba đường khoảng 100 mét định mua card điện thoại gọi cho người thân đến chở H về. Thấy vậy, L đứng giữ xe mô tô biển số 55Y4-3275, còn Y điều khiển xe mô tô biển số 59Y3-647.00 chạy đến chỗ bà H đang đứng. Lúc này, Y nhìn thấy bà H đang cầm điện thoại di động hiệu Samsung, màu đen trên tay thì Y giật lấy điện thoại. Bà H nói Y trả lại điện thoại thì Y nói trả tiền nợ cho Y thì Y mới trả lại điện thoại cho H. Do không có tiền trả cho Y và lo sợ Y sẽ đánh nên bà H bỏ đi bộ về, còn Y và L lấy xe mô tô và điện thoại của H đem về nhà cất giữ.

Sau đó, bà H trình báo đến Công an xã A, huyện C sự việc bị Y và L chiếm đoạt xe mô tô và điện thoại. Do vụ việc xảy ra ở xã A, thị xã B (nay là phường A, thành phố B) nên Công an xã A hướng dẫn bà H đến Công an xã A

3

trình báo. Chiều ngày 14/11/2023, bà H đến Công an xã A trình báo. Khoảng 15 giờ ngày 15/11/2023, Công an xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương phối với Công an xã A, huyện C đi cùng bà H đến nhà Y và L để vận động trả lại xe mô tô và điện thoại cho bà H nhưng Y và L không đồng ý trả lại tài sản và chỉ đồng ý trả lại nếu bà H trả tiền nợ vay. Đến khoảng 08 giờ 30 phút ngày 16/11/2023, Y và L tự nguyện đem xe mô tô và điện thoại của bà H đến Công an xã A giao nộp.

Vật chứng thu giữ:

  • 01 xe mô tô hiệu Wave, biển số 55Y4-3275 cùng giấy đăng ký xe;
  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung A02, màu đen;
  • 01 xe mô tô hiệu Honda SH Mode, biển số 59Y3-647.00.

Theo Kết luận định giá tài sản số 158 ngày 29/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thị xã B (nay là thành phố B) kết luận: Xe mô tô hiệu Wave, biển số 55Y4-3275 trị giá 6.700.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A02, màu đen trị giá 1.175.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 7.875.000 đồng (bảy triệu, tám trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).

Tại bản Cáo trạng 199/CT-VKS-BC ngày 23/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Bùi Thị Hồng Y và Nguyễn Trung L về tội: “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố B trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Bùi Thị Hồng Y và Nguyễn Trung L về tội: “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Thị Hồng Y và Nguyễn Trung L mỗi bị cáo mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù, thời gian thử thách từ 36 tháng đến 48 tháng.

+ Về trách nhiệm dân sự: Không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết

+ Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị tuyên trả lại cho Nguyễn Trung L xe mô tô hiệu Honda SH Mode, biển số 59Y3-647.00.

- Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã mô tả và thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát. Trong phần tranh luận, các bị cáo không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

- Bị hại bà Nguyễn Thị Hữu H: Bà H thống nhất toàn bộ nội dung bản Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, thống nhất với quan điểm

4

xử lý của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt. Ngoài ra, bà H xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Y và bị cáo L. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng, bà H không yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của vị đại diện Viện Kiểm sát, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Công an thành phố B, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo thể hiện: Tại phiên toà, bị cáo Y và bị cáo L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng mô tả. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 13/11/2023, tại ngã ba giao nhau giữa đường ĐH609 và đường không tên thuộc ấp D, xã A, thị xã B (nay là khu phố D, phường A, thành phố B), tỉnh Bình Dương, Nguyễn Trung L có hành vi điều khiển xe mô tô biển số 59Y3-647.00 chở vợ là Bùi Thị Hồng Y chặn đầu xe mô tô biển số 55Y4-3275 do bà Nguyễn Thị Hữu H điều khiển để đòi nợ nhưng bà H không có tiền để trả. Do đó, L thò tay qua chìa khoá xe rồi tắt máy xe mô tô biển số 55Y4-3275 của bà H và rút lấy chìa khóa xe, còn Y dùng tay đánh vào đầu nhưng trúng vào nón bảo hiểm của bà H. Sau đó, bà H yêu cầu L trả chìa khoá xe cho H nhưng L không đồng ý. Bà H lo sợ bị Y đánh nên bỏ đi bộ đến tiệm tạp hoá cách ngã ba đường khoảng 100 mét định mua card điện thoại gọi cho người thân đến chở H về. Thấy vậy, L đứng giữ xe mô tô biển số 55Y4-3275 của bà H, còn Y điều khiển xe mô tô biển số 59Y3-647.00 chạy đến chỗ bà H đang đứng. Lúc này, Y nhìn thấy bà H đang cầm điện thoại trên tay thì Y giật lấy điện thoại. Bà H yêu cầu Y trả lại điện thoại thì Y nói trả tiền nợ cho Y thì Y mới trả lại điện thoại cho H. Do không có tiền trả cho Y và sợ Y sẽ đánh nên bà H bỏ đi bộ về, còn Y và L lấy xe mô tô và điện thoại của H đem về nhà cất giữ. Sau khi bị hại trình báo đến cơ quan công an thì Y và L mới đem giao nộp tài sản đã chiếm đoạt.

Hành vi đe doạ dùng vũ lực, uy hiếp tinh thần của người khác nhằm chiếm đoạt tài sản với tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 7.875.000 đồng. Hành vi này đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Cưỡng đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt

5

được quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Do đó, bản Cáo trạng số 199/CT-VKS-BC ngày 23/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Về nhận thức, các bị cáo biết việc đe doạ dùng vũ lực, uy hiếp tinh thần của người khác nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật và sẽ bị pháp luật trừng trị nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện, thể hiện ý thức tham lam, liều lĩnh và xem thường pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần phải xử phạt các bị cáo một mức án thật nghiêm, tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

[3] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được cân nhắc, xem xét khi quyết định hình phạt gồm: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải; Sau khi phạm tội các bị cáo đã tự nguyện giao nộp lại toàn bộ tài sản đã chiếm đoạt cho bị hại; Các bị cáo hiện đang nuôi con nhỏ; Tại phiên tòa, bị hại xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên bị cáo Y và L được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Riêng bị cáo L là lao động chính trong gia đình, có thời gian tham gia phục vụ nghĩa vụ quân sự, có ông nội là Nguyễn Văn D và ông ngoại Nguyễn Văn B đều là Liệt sĩ nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Xét tính chất đồng phạm, đây là vụ án mang tính đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc, câu kết chặt chẽ vai trò của từng bị cáo. Trong đó, bị cáo Y là người khởi xướng, rủ rê chồng mình là Nguyễn Trung L đi tìm bị hại để đòi nợ, Y còn là người trực tiếp đe doạ dùng vũ lực, uy hiếp tinh thần đối với bị hại. Bị cáo L là người giúp sức cho bị cáo Y thực hiện tội phạm bằng hành vi chở bị cáo Y đi tìm bị hại, rút chìa khoá xe của bị hại nhằm giúp sức tích cực cho Y trong việc thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, trong vụ án này bị cáo Y giữ vai trò chính, L giữ vai trò là người giúp sức nên khi quyết định hình phạt thì bị cáo Y cao hơn bị cáo L.

[6] Khi lượng hình, xét các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Xét thấy, các bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu

6

đến an ninh trật tự, an toàn xã hội nên không cần thiết phải bắt các bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự và và các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo (Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Toà án nhân dân Tối cao), cho bị cáo hưởng án treo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú để giám sát, giáo dục.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47; Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, cần trả lại xe mô tô hiệu Honda SH Mode, biển số 59Y3-647.00 cho Nguyễn Trung L.

- Đối với xe mô tô hiệu Wave, biển số 55Y4-3275, cùng giấy đăng ký xe xác định chủ sở hữu là bà Bùi Thị S (sinh năm 1964, nơi thường trú: Xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh). Bà S là dì của bà Nguyễn Thị Hữu H cho bà H mượn xe để làm phương tiện đi lại. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố B, tỉnh Bình Dương trao trả lại là phù hợp.

- Đối với điện thoại di động hiệu S1 A02, màu đen xác định chủ sở hữu là bà Nguyễn Thái H1 (sinh năm 1986, nơi thường trú: Xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh). Bà H1 là em của bà Nguyễn Thị Hữu H cho bà H mượn điện thoại để sử dụng. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố B, tỉnh Bình Dương trao trả lại là phù hợp.

[9] Xét thấy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

[10] Đối với hành vi cho bà Nguyễn Thị Hữu H vay tiền của Bùi Thị Hồng Y, xét thấy chưa đủ dấu hiệu cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không đề cập xử lý là có căn cứ.

[11] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Thị Hồng Y và Nguyễn Trung L phạm tội: “Cưỡng đoạt tài sản”.
  2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
    • - Căn cứ khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
    • - Căn cứ Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Toà án nhân dân Tối cao;

7

Xử phạt bị cáo Bùi Thị Hồng Y 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 40 (bốn mươi) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày Tòa tuyên án (05/8/2024).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày Tòa tuyên án (05/8/2024).

Giao bị cáo Bùi Thị Hồng Y và Nguyễn Trung L cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo Bùi Thị Hồng Y và Nguyễn Trung L thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc phải chấp hành hình phạt của bản án này và tổng hợp hình phạt của Bản án mới theo quy định.

  1. Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tuyên: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn đối với bị cáo Bùi Thị Hồng Y và Nguyễn Trung L theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 71/LCCT-TA-BC ngày 24/7/2024 và Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 72/LCCT-TA-BC ngày 24/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 05/8/2024).
  2. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét.
  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47; Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tuyên: Trả lại xe mô tô hiệu Honda SH Mode, biển số 59Y3-647.00 cho Nguyễn Trung L.

    (Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/7/2024 giữa Công an thành phố B, tỉnh Bình Dương và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương).

  4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Bùi Thị Hồng Y và Nguyễn Trung L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án (05/8/2024).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Chi cục THADS thành phố Bến Cát;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - CA thành phố Bến Cát;
  • - UBND xã An Nhơn Tây, huyện Củ Chi, TP . HCM;
  • - Lưu: HSVA, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đậu Thị Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 183/2024/HS-ST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về cưỡng đoạt tài sản

  • Số bản án: 183/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cưỡng đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger