Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 183/2024/HS-ST

Ngày 04-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Lộc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Khắc Tân

Bà Hà Thị Nga

- Thư ký phiên toà: Ông Trịnh Việt Anh, Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Lan Phương, Kiểm sát viên

Ngày 04 tháng 9 năm 2024 Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 171/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 727/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Hà Xuân T, sinh ngày 19 tháng 6 năm 1990 tại Hải Phòng; đăng ký hộ khẩu thường trú: Số C phố A, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Thôn D, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Xuân L và bà Bùi Thị Q (đã chết); có vợ là Vũ Hồng A (đã ly hôn) và có 01 con; tiền án: Tại Bản án số 14/2017/HSST ngày 04/7/2017 Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình xử phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bản án số 63/2020/HSST ngày 18/5/2020 Toà án nhân dân quận Lê Chân xử phạt 42 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 15/12/2023, tạm giam ngày 20/12/2023; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ ngày 15/12/2023, Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận L làm nhiệm vụ tuần tra trên địa bàn quận, phát hiện Hà Xuân T đang điều khiển xe mô tô BKS: 15C1-500.73 tại khu vực trước cửa nhà số E A, phường A, quận L có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Quá trình tổ công tác kiểm tra, đã thu giữ trong túi quần phía trước bên trái T đang mặc 01 hộp giấy, bên trong có 01 túi nilon màu trắng kích thước 06x05cm chứa tinh thể màu trắng (Mẫu số 1), 01 túi nilon màu trắng kích thước 03x04cm chứa tinh thể màu trắng (Mẫu số 2). Ngoài ra, còn thu của T 03 điện thoại di động, số tiền 91.000.000 đồng và 01 xe mô tô BKS: 15C1-500.73. Sau đó, lực lượng Công an đã đưa T cùng toàn bộ vật chứng về trụ sở Công an quận L lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Ngày 15/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hà Xuân T tại thôn D, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng, thu giữ:

  • * Thu dưới gầm bàn 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá.
  • * T1 trên kệ bàn:
    • - 01 hộp cát tông màu đen bên trong có:
      • + 01 túi nilon màu trắng mép viền đỏ kích thước 06x09cm bên trong chứa tinh thể màu trắng (Mẫu KX1)
      • + 02 túi nilon màu trắng mép viền xanh kích thước 02x02cm bên trong đều chứa tinh thể màu trắng (Mẫu KX2).
      • + 02 túi nilon màu trắng mép viền xanh kích thước 02x02cm bên trong đều chứa chất bột màu trắng (Mẫu KX3).
      • + 01 cân điện tử, 01 ống nhựa màu xanh có một đầu cắt vát.
    • - 01 ví màu đen bên trong có 10 vỏ túi nilon màu trắng mép viền xanh kích thước 02x02cm.
    • - 01 túi nilon kích thước 08x14cm bên trong có:
      • + 01 túi nilon màu trắng mép viền đỏ kích thước 07x10cm bên trong chứa chất bột màu trắng (Mẫu KX4).
      • + 01 túi nilon màu trắng mép viền đỏ kích thước 04x06cm bên trong chứa chất bột màu trắng (Mẫu KX5).

Tại bản kết luận giám định số 1037/TB-KTHS(MT) ngày 20/12/2023 của Phòng K Công an thành phố H kết luận:

  • - Mẫu số 1: Tinh thể màu trắng của mẫu số 1 gửi giám định là ma túy có khối lượng 3,85 gam, loại Methamphetamine.
  • - Mẫu số 2: Tinh thể màu trắng của mẫu số 2 gửi giám định là ma túy có khối lượng 1,48 gam, loại Methamphetamine.

Tại bản kết luận giám định số 1038/TB-KTHS(MT) ngày 20/12/2023 của Phòng K Công an thành phố H kết luận:

  • - Mẫu KX1: Tinh thể màu trắng của mẫu KX1 gửi giám định là ma túy có khối lượng 2,06 gam, loại Methamphetamine.
  • - Mẫu KX2: Tinh thể màu trắng của mẫu KX2 gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,62 gam, loại Methamphetamine.
  • - Mẫu KX3: Chất bột màu trắng của mẫu KX3 gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,51 gam, loại Heroine.
  • - Mẫu KX4: Chất bột màu trắng của mẫu KX4 gửi giám định là ma túy có khối lượng 5,18 gam, loại Heroine.
  • - Mẫu KX5: Chất bột màu trắng của mẫu KX5 gửi giám định là ma túy có khối lượng 8,13 gam, loại Heroine.

Hà Xuân T khai nhận: Từ khoảng đầu tháng 11/2023, Hà Xuân T nảy sinh ý định bán ma túy kiếm lời nên đã đến khu vực ngõ C T, phường C, quận L, thành phố Hải Phòng mua ma túy Heroine. Tại đây, T gặp M là người nghiện quen biết ngoài xã hội (không xác định được căn cước, lai lịch) và hỏi mua 05 “Chỉ” ma túy Heroine với giá 2.500.000 đồng/01 chỉ. Toản đưa 12.500.000 đồng cho M. M nhận tiền sau đó đi đâu không rõ, một lúc sau M quay lại đưa T 01 túi nilon to chứa ma túy Heroine. T nhận ma túy mang về nhà tại thôn D, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng chia nhỏ ma túy Heroine ra các túi nilon nhỏ rồi cất trong hộp giấy cát tông màu đen để trên kệ bàn. Các ngày sau đó, T đã bán H cho nhiều người nghiện không quen biết ở khu vực gần nhà với giá 500.000 đồng/01 túi. T không nhớ là đã bán cho bao nhiêu người và không nhớ đã thu lời được bao nhiêu.

Tối ngày 12/12/2023, T gọi điện đến số điện thoại 0906.077.xxx của N (không xác định được căn cước lai lịch) đặt mua 10 gam ma túy đá với số tiền 6.000.000 đồng mục để để bán kiếm lời. N đồng ý và hẹn giao dịch tại bờ đê A, huyện A, thành phố Hải Phòng. Sau đó, T đi đến chỗ hẹn đưa N 6.000.000 đồng. N nhận tiền đưa lại cho T 01 túi nilon to chứa ma túy đá. T mang túi ma túy đá này về nhà tại thôn D, xã T, huyện T, Hải Phòng chia ra thành các túi nhỏ, cất trong hộp giấy cát tông màu đen để trên kệ bàn với mục đích để sử dụng nhưng khi có khách hỏi mua thì sẽ bỏ ra bán.

Đến chiều ngày 15/12/2023, T đang ở nhà thì có D (không xác định được căn cước, lai lịch) là người quen xã hội gọi điện qua ứng dụng mạng Zalo nhờ T mua hộ 05 gam ma túy đá. D bảo T chia 05 gam ma túy đá thành 02 túi: 01 túi chứa 04 gam; 01 túi chứa 01 gam và bảo lấy thêm 50 “Số” (tức nửa gam) ma túy

đá cho vào trong túi đựng 01 gam. T đồng ý, báo giá 4.500.000 đồng và bảo D chuyển khoản ứng tiền trước. D đồng ý rồi chuyển trước cho T 1.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng V của T thông qua dịch vụ chuyển tiền và hẹn T giao dịch tại khu vực cổng trường cấp ba T, quận L. Nhận tiền xong, T lấy 01 túi nilon chứa ma túy đá ở trong hộp giấy cát tông trên kệ bàn, dùng ống nhựa màu xanh một đầu cắt vát chia ma túy vào trong 02 vỏ túi nilon và dùng cân điện tử cân lượng ma túy như D đặt. Toản chia ma túy đá vào 02 túi nilon, rồi cất túi ma túy đá to cùng cân điện tử, ống nhựa màu xanh vào trong hộp cát tông màu đen rồi cất lại lên trên kệ bàn. T cho 02 túi nilon chứa ma túy bán cho D vào trong 01 hộp giấy rồi cất hộp giấy này vào trong túi quần phía trước bên trái T đang mặc. Sau đó, T điều khiển xe mô tô BKS: 15C1-500.73 đến khu vực cổng trường C, quận L để bán ma túy cho D. Khi T đi đến khu vực trước cửa nhà số E A, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận L, Hải Phòng phát hiện, bắt giữ. Trước đó, vào ngày 13/12/2023, T đã bán cho D 01 gói ma túy đá với giá 200.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 181/CT-VKSLC ngày 07 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố Hà Xuân T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b, p, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận như nội dung trên, T khai trong số tiền 91.000.000đ cơ quan công an thu giữ có 1.000.000₫ là D chuyển vào tài khoản VIB trước cho T để mua ma tuý, số tiền này T đã rút để tiêu xài cá nhân, số tiền còn lại của bố bị cáo nhờ mang trả cho chú ruột bị cáo. Đối với 03 chiếc điện thoại di động cơ quan công an thu giữ có 02 chiếc của bị cáo vẫn đang sử dụng, còn 01 chiếc bị vỡ mặt sau là bị cáo nhặt được trên đường đi và đã bị hỏng không, bật không lên nguồn.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Hà Xuân T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b, p, q khoản 2 và khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hà Xuân T mức án từ 11 năm 06 tháng đến 12 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Bị cáo phạm tội vì mục đích vụ lợi, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy:

  • - 01 phong bì niêm phong số 1037MT/PC09 đựng số ma túy cùng vỏ bao gói còn lại sau giám định.
  • - 01 phong bì niêm phong số 1038MT/PC09 đựng số ma túy còn lại sau giám định;
  • - 01 phong bì niêm phong số 1038-A/PC09 đựng vỏ bao gói còn lại sau giám định.
  • - 01 hộp giấy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 01 vỏ hộp cát tông màu đen, 01 cân điện tử, 01 ống nhựa màu xanh một đầu cắt vát, 01 ví màu đen, 10 vỏ túi nilon màu trắng mép viền xanh kích thước 02 x 02cm, 01 vỏ túi nilon kích thước 08 x 14cm.
  • - Tịch thu tiêu huỷ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh vỡ mặt sau không lên nguồn.
  • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 1.000.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen không lên nguồn, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu ghi không lên nguồn thu giữ của bị cáo.
  • - Buộc bị cáo phải nộp lại 200.000đ là tiền bán ma tuý cho đối tượng D vào ngày 13/12/2023 để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước

Đối với xe mô tô BKS: 15C1-500.73 và số tiền 91.000.000 đồng thu giữ của Hà Xuân T, kết quả điều tra xác định thuộc sở hữu hợp pháp của ông Hà Xuân L, sinh năm 1960; nơi cư trú: Số C T, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng (bố T) không liên quan đến việc phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L, Hải Phòng đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên và số tiền 90.000.000 đồng cho ông Hà Xuân L. Nên không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.

Đối với nam giới tên M là người bán ma túy Heroine cho T, quá trình điều tra không xác định được căn cước, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L có cơ sở để điều tra làm rõ, nên không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.

Đối với nam giới tên N là người bán ma túy đá cho T, T khai liên hệ với N qua số điện thoại 0906.077.xxx. Quá trình thu giữ thư tín, điện tín số điện thoại 0906.077.xxx, được nhà mạng cung cấp chủ thuê bao là Tuyển Quang L1, sinh năm 1984; nơi thường trú: T P, phường Q, quận H, thành phố Hải Phòng. Xác minh tại Công an phường Q, Tuyển Quang L1 hiện vắng mặt tại địa phương không rõ đi đâu, làm gì. Tiến hành cho T nhận dạng Tuyển Quang L1, T xác định không phải là N - người bán ma túy đá cho T. Ngoài số điện thoại trên, T không biết nhân thân, lai lịch của N, vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L có cơ sở để điều tra làm rõ, nên không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.

Đối với nữ giới tên D - người hỏi mua ma túy của T qua ứng dụng mạng Zalo. Kết quả điều tra xác định D sử dụng số điện thoại 0585.710.xxx. Kết quả thu giữ thư tín, điện tín số điện thoại 0585.710.xxx xác định: Chủ thuê bao là Lê Văn

T2, sinh năm 1997; nơi thường trú: M, huyện P, thành phố Cần Thơ. Kết quả điều tra, xác minh tại thành phố Cần Thơ không có xã M thuộc huyện P, thành phố Cần Thơ. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L có cơ sở để điều tra làm rõ, nên không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại giai đoạn điều tra, truy tố, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

- Về hành vi Mua bán trái phép chất ma tuý:

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ tài liệu khác tại hồ sơ và vật chứng thu giữ cho thấy: Vào khoảng 16 giờ ngày 15/12/2023, Hà Xuân T đã có hành vi cất giữ trái phép 5,33 gam Methamphetamine tại khu vực trước cửa nhà số E A, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng và 2,68 gam Methamphetamine; 13,82 gam Heroine tại nhà ở thôn D, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng với mục đích để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời thì bị phát hiện, bắt quả tang. Trước đó, vào ngày 13/12/2023, T đã 01 lần bán trái phép 01 gói ma túy đá giá 200.000 đồng cho đối tượng D; nên đủ cơ sở kết luận bị cáo Hà Xuân T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tình tiết định khung: Chỉ trong thời gian ngắn bị cáo đã 02 lần bán ma tuý cho đối tượng tên D và nhiều đối tượng khác bị cáo không quen biết; cùng thời điểm bị cáo đã mua bán 02 chất ma tuý là M1 và Heroine; nhân thân bị cáo có 02 tiền án chưa được xoá: Tại Bản án số 14/2017/HSST ngày 04/7/2017 Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình xử phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bản án số 63/2020/HSST ngày 18/5/2020 Toà án nhân dân quận Lê Chân xử phạt 42 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; do vậy bị cáo phải chịu các tình tiết định khung tăng nặng được quy định tại điểm b (phạm tội 02 lần trở lên), p (có 02 chất ma tuý ...), q (tái phạm nguy hiểm) khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm đến trật tự trị an xã hội.

[5] Mặc dù bị cáo biết hành vi mua bán trái phép chất ma túy bị nhà nước nghiêm cấm, bị cáo cũng đã bị xét xử nhiều lần về tội Mua bán trái phép chất ma tuý nhưng vì mục đích vụ lợi nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên cần xử phạt nghiêm.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[6] Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo cũng có thời gian phục vụ trong quân đội được xuất ngũ về địa phương; kiểm sát viên tham gia phiên toà có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi lượng hình là có căn cứ chấp nhận.

- Về hình phạt áp dụng:

[7] Từ những phân tích trên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, trên mức điểm của khung hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian dài đủ tác dụng giáo dục cải tạo, phòng ngừa tội phạm chung.

- Về hình phạt bổ sung:

[8] Bị cáo phạm tội vì mục đích vụ lợi, nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

- Về xử lý vật chứng:

[9] Đối với 03 phong bì niêm phong gồm: 01 phong bì niêm phong số 1037MT/PC09 đựng số ma túy cùng vỏ bao gói còn lại sau giám định; 01 phong bì niêm phong số 1038MT/PC09 đựng số ma túy còn lại sau giám định; 01 phong bì niêm phong số 1038-A/PC09 đựng vỏ bao gói còn lại sau giám định; 01 hộp giấy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 01 vỏ hộp cát tông màu đen, 01 cân điện tử, 01 ống nhựa màu xanh một đầu cắt vát, 01 ví màu đen, 10 vỏ túi nilon màu trắng mép viền xanh kích thước 02 x 02cm, 01 vỏ túi nilon kích thước 08 x 14cm và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh vỡ mặt sau không lên nguồn. Xét đây là vật cấm lưu hành, không còn sử dụng được và không có giá trị sử dụng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, đối chiếu điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên cần tịch thu tiêu huỷ.

[10] Đối với số tiền 1.000.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen không lên nguồn, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu ghi không

lên nguồn thu giữ của bị cáo. Xét số tiền bị cáo bán ma túy cho D mà có, 02 chiếc điện thoại di động bị cáo khai dùng vào việc mua bán ma tuý; đối chiếu điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

[11] Đối với số tiền 200.000đ, bị cáo có được do đã bán ma tuý cho đối tượng tên D vào ngày 13/12/2023; xét đây là tiền do phạm tội mà có, đối chiếu điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự buộc bị cáo phải nộp lại để tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

- Về án phí:

[12] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Về quyền kháng cáo:

[13] Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b, p, q khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Hà Xuân T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Xử phạt: H (mười một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15 tháng 12 năm 2023.

Căn cứ khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự: Phạt bổ sung bị cáo Hà Xuân T số tiền 10.000.000đ để sung ngân sách Nhà nước;

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 và khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong số 1037MT/PC09 đựng số ma túy cùng vỏ bao gói còn lại sau giám định; 01 phong bì niêm phong số 1038MT/PC09 đựng số ma túy còn lại sau giám định; 01 phong bì niêm phong số 1038-A/PC09 đựng vỏ bao gói còn lại sau giám định; 01 hộp giấy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 01 vỏ hộp cát tông màu đen, 01 cân điện tử, 01 ống nhựa màu xanh một đầu cắt vát, 01 ví màu đen, 10 vỏ túi nilon màu trắng mép viền xanh kích thước 02 x 02cm, 01 vỏ túi nilon kích thước 08 x 14cm và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh vỡ mặt sau không lên nguồn.
  • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 1.000.000đ, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen không lên nguồn và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu ghi không lên nguồn thu giữ của bị cáo.
  • - Buộc bị cáo phải nộp lại 200.000₫ là tiền bán ma tuý cho D ngày 13/12/2023 để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

(Theo Biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 07 tháng 8 năm 2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an quận L và Chi cục thi hành án dân sự quận Lê Chân; Ủy nhiệm chi ký hiệu: C4-02a/KB, số 52.2024/QĐ-CALC(HTTP) ngày 13/8/2024 giữa Công an quận L và Kho bạc Nhà nước quận L).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 6; Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Căn cứ vào Điều 2, 26 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - Công an Quận Lê Chân + PV 06 + PC10;
  • - Trại tạm giam Công an Hải Phòng;
  • - Bị cáo + THAHS;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - Sở tư pháp Hải Phòng;
  • - UBND phường An Dương, Q. Lê Chân + UBND
  • xã Tân Dương, H. Thuỷ Nguyên, Tp. Hải Phòng;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Bá Lộc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 183/2024/HS-ST ngày 04/09/2024 của Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 183/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hà Xuân T - MBTPCMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger