|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 183/2024/HS-ST Ngày: 03 - 5- 2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Võ Thị Gái.
- Bà Nguyễn Thị Thu Hằng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Khải – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 175/2024/HSST ngày 04 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 202/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Thành L, sinh năm: 1977, tại Vĩnh Long; nơi thường trú: 54 K, Khu phố C, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 54 K, Khu phố C, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn N (©) và bà Nguyễn Thị E, sinh năm 1956; bị cáo là con thứ 3 trong gia đình có 5 anh chị em; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2023, có mặt tại phiên tòa.
2. Đặng Văn L1, sinh năm: 1969, tại Nam Định; nơi thường trú: 7 N, Phường C, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Nhà không số, kế bên nhà số C, đường K, Khu phố C, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Công nhân; con ông Đặng Văn G, sinh năm 1929 và bà Đào Thị L2 (©); bị cáo là con duy nhất trong gia đình; vợ: Nguyễn Thị N1, sinh năm 1972 và có 02 con, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2023, có mặt tại phiên tòa.
3. Đào Mạnh D, sinh năm: 1989, tại Ninh Bình; nơi thường trú: Thôn V, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Tổ B, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Công nhân; con ông Đào Văn C, sinh năm 1952 và bà Lê Thị L3, sinh năm 1954; bị cáo là con út trong gia đình có 03 anh chị em; vợ: Hà Thị V, sinh năm 1991 và có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2023, có mặt tại phiên tòa.
4. Lê Công Q, sinh năm: 1977, tại Thanh Hóa; nơi thường trú: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: 1 N, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Kinh doanh; con ông Lê Công N2 (©) và bà Hoàng Thị N3, sinh năm 1940; bị cáo là con thứ 2 trong gia đình có 3 anh chị em; vợ: Trần Thị Q1, sinh năm 1980; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2023, có mặt tại phiên tòa.
5. Lê Văn T, sinh năm: 1991, tại Hà Nam; nơi thường trú: Thôn M, xã Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: 14 Đường A, Khu phố C, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Nhân viên giao gas; con ông Lê Văn P, sinh năm 1951 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1957; bị cáo là con út trong gia đình có 4 anh chị em; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2023 đến ngày 26/3/2024 thì được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
6. Phạm Văn Đ, sinh năm: 1983, tại Thanh Hóa; nơi thường trú: Thôn B, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: B L, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Mường; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Công nhân; con ông Phạm Văn C1 (©) và bà Chu Thị T2, sinh năm 1948; bị cáo là con thứ 5 trong gia đình có 6 anh chị em; vợ: Vũ Thị D1, sinh năm 1988 và có 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2023, có mặt tại phiên tòa.
7. Trần Thanh B, sinh năm: 1982, tại Hà Nam; nơi thường trú: 50 T, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: 1/5/2 Đường D, Khu phố F, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Tự do; con ông Trần Văn Q2, sinh năm 1947 và bà Phạm Thị H, sinh năm 1948; bị cáo là con thứ 4 trong gia đình có 5 anh chị em; vợ: Đoàn Thị Thiên N4, sinh năm 1992 và có 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2023 đến ngày 13/3/2024 thì được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Thanh B: Ông Nguyễn Minh Q3 – Luật sư của Công ty L5 (G) thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H.
Địa chỉ: Tầng F, B Đ, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (Xin vắng mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Đặng Văn L1: Ông Đặng Văn Đ1 – Luật sư của Văn phòng Luật sư Nguyễn Văn D2 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H.
Địa chỉ: D T, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thành L, Đặng Văn L1, Đào Mạnh D, Lê Công Q, Lê Văn T, Phạm Văn Đ và Trần Thanh B, là khách quen của của quán Cà phê tại địa chỉ: Số B K, Khu phố C, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh do bà Lê Thị H1 (sinh năm 1959) làm chủ.
Khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 15/12/2023, L, L1, D, Q, T, Đ và B cùng đến quán cà phê trên để uống nước và nghỉ ngơi thì tình cờ gặp nhau. Lúc này, L thấy một bộ bài tây 52 lá có sẵn ở ghế đá trong quán cà phê nên rủ cả nhóm cùng nhau đánh bài liêng ăn tiền thì cả nhóm đồng ý. Cách chơi như sau: Trước khi chia bài, mỗi ván, mỗi người phải bỏ ra 20.000 đồng, người nào thắng sẽ được lấy số tiền này. Sau khi đặt cược, người làm cái sẽ sử dụng bộ bài tây 52 lá chia bài thành 07 tụ, mỗi tụ 03 lá bài. Nhà cái được quyền tố trước, mỗi lần tố thấp nhất là 20.000 đồng và cao nhất là 300.000 đồng (tối đa 02 lượt tố), tiếp đến người chơi tiếp theo lần lượt được quyền tố bài hoặc bỏ bài. Khi không còn ai tố nữa thì tất cả những người chơi chưa bỏ bài được quyền mở bài và so sánh kết quả cao thấp. Cách tính bài liêng như sau:
- - Lớn nhất gọi là S (03 con bài giống nhau), trong đó sáp 3 con A lớn nhất, sáp 3 con 2 là nhỏ nhất;
- - Lớn nhì là L4 (03 quân bài liên tiếp nhau), trong đó liêng Q, K, A là lớn nhất, liêng 1, 2, 3 là nhỏ nhất;
- - Lớn ba là C2 (03 quân bài hình bất kỳ), trong đó Cạch K, K, Q là lớn nhất, Cạch J, J, Q là nhỏ nhất;
- - Cuối cùng là tính nút, lúc này các con bài từ 10, J, Q, K được tính là 10, trong đó, tổng ba con bài có hàng đơn vị là 9 điểm được tính là lớn nhất và 10 điểm được tính là thấp nhất trong cách tính cuối cùng này.
Khi đánh bài L mang theo 4.150.000 đồng, L1 mang theo 1.050.000 đồng, D mang theo 3.430.00 đồng, Q mang theo 700.000 đồng, T mang theo 1.520.000 đồng, Đ mang theo 550.000 đồng, B mang theo 2.900.000 đồng dùng để đánh bạc. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày 15/12/2023, khi L, L1, D, Q, T, Đ và B đang đánh bài thì Đ3 Công an thành phố thủ Đ2 phối hợp với Công an phường H, thành phố T tiến hành kiểm tra quán cà phê địa chỉ số B K, khu phố C, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng. Đồng thời đưa bà Lê Thị H1 cùng 07 đối tượng về Công an phường H, thành phố T làm việc.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T các đối tượng khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.
Bà Lê Thị H1 (chủ quán cà phê) khai nhận: Khoảng 14 giờ ngày 15/12/2023, có 07 khách quen thường hay đến quán cà phê tại địa chỉ: B K, khu phố C, phường H, thành phố T uống nước. Sau khi đưa nước uống cho khách, bà H1 vào trong nhà giữ cháu đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày thì Công an thành phố T đến đưa tất cả về trụ sở làm việc. Bà H1 không bán bài cho các đối tượng chơi bài và không biết các đối tượng đánh bài ăn tiền.
* Vật chứng và đồ vật thu giữ gồm:
- - 01 bộ bài tây 52 lá (đã qua sử dụng). (Nguyễn Thành L lấy bộ bài có sẵn ở ghế đá trong quán rủ các con bạc đánh bạc).
- - Tiền N5 thu giữ trên chiếu bạc: 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng) (trong đó của L là 100.000 đồng, T là 320.000 đồng, B là 100.000 đồng, Đ là 100.000 đồng, L1 là 50.000 đồng, Q là 100.000 đồng, D là 130.000 đồng).
- - Tiền NHNN Việt Nam thu giữ trong người các đối tượng dùng để đánh bạc: 13.400.000 đồng (mười ba triệu bốn trăm nghìn đồng) (trong đó của L là 4.500.000 đồng, T là 1.500.000 đồng, B là 2.500.000 đồng, Đ là 600.000 đồng, L1 là 800.000 đồng, Q là 1.000.000 đồng, D là 2.500.000 đồng).
Cáo trạng số: 181/CT-VKS-TPTĐ ngày 02/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thành L, Đặng Văn L1, Đào Mạnh D, Lê Công Q, Lê Văn T, Phạm Văn Đ và Trần Thanh B về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L: 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách gấp đôi thời hạn tù.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Văn L1: 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách gấp đôi thời hạn tù.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đào Mạnh D: 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách gấp đôi thời hạn tù.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Công Q: 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách gấp đôi thời hạn tù.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn T: 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách gấp đôi thời hạn tù.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ: 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách gấp đôi thời hạn tù.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thanh B: 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách gấp đôi thời hạn tù.
- - Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi theo cáo trạng truy tố và luận tội của Kiểm sát viên, không tranh luận.
Luật sư Đặng Văn Đ1 bào chữa cho bị cáo Đặng Văn L1 tranh luận:
Luật sư thống nhất với với tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo L1. Tuy nhiên, Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến số tiền bị cáo tham gia đánh bạc là thấp nhất, mục đích chơi là để giải trí chứ không phải sát phạt. Bên cạnh đó, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo L1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; hoàn cảnh gia đình khó khăn; bị cáo từng tham gia nghĩa vụ quân sự... để giảm nhẹ cho bị cáo L1 một phần hình phạt khi lượng hình.
Lời nói sau cùng: Tất cả các bị cáo đều đã nhận ra lỗi lầm của mình, rất mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo có cơ hội sửa đổi, làm ăn chân chính để nuôi gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều đúng pháp luật.
[2] Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, người liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ... cùng các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình điều tra về hành vi, thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với cáo trạng của Viện kiểm sát nên có cơ sở xác định: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 15/12/2023, tại quán C3 (địa chỉ: Số B K, Khu phố C, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh), Nguyễn Thành L, Đặng Văn L1, Đào Mạnh D, Lê Công Q, Lê Văn T, Phạm Văn Đ và Trần Thanh B thực hiện hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền với tổng số tiền xác định dùng vào việc đánh bạc là 14.300.000 đồng thì bị bắt quả tang.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cố ý vi phạm pháp luật, xâm phạm đến trật tự, nếp sống văn minh của xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự quản lý của Nhà nước và là nguy cơ dẫn đến các tệ nạn xã hội khác. Các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi đánh bạc là tệ nạn xã hội bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì động cơ vụ lợi, muốn có tiền để tiêu xài nên đã cố ý thực hiện hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 14.300.000 đồng. Hành vi của các bị cáo thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Vụ án có đồng phạm nhưng giản đơn, cả 7 bị cáo tham gia đánh bạc với hình thức đánh bài Liêng, trong đó bị cáo L là người phát hiện ra bộ bài để trên ghế và là người rủ các bị cáo khác tham gia, đồng thời cũng là người sử dụng số tiền nhiều nhất vào việc đánh bạc nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét vai trò, số tiền của từng bị cáo dùng vào việc đánh bạc để quyết định hình phạt tương xứng.
Đối với bà Lê Thị H1 là chủ quán cà phê, không biết các bị cáo đánh bạc ăn tiền, không thu tiền xâu nên không có căn cứ xử lý hình sự đối với bà H1.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt:
Tổng số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 14.300.000 đồng và không vi phạm tình tiết định khung tăng nặng hình phạt khác nên bị đưa ra xét xử theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo Trần Thanh B có cha (ông Trần Văn Q2) là thương binh hạng 4/4, được tặng Bằng khen vì có thành tích xuất sắc trong phong trào quần chúng “Bảo vệ an ninh Tổ Quốc” năm 1987-1988; bị cáo Phạm Văn Đ đã tham gia Nghĩa vụ quân sự, được tặng bằng khen, có cha (ông Phạm C1) được tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhất, mẹ (bà Chu Thị T2) được tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì; bị cáo Lê Công Q có mẹ (bà Hoàng Thị N3) là người tàn tật, hoàn cảnh gia đình khó khăn (có xác nhận của chính quyền địa phương); bị cáo Đặng Văn L1 từng tham gia nghĩa vụ quân sự nên các bị cáo này được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội ít nghiêm trọng, đã bị tạm giam một thời gian đủ để nhận thức ra hành vi sai trái của mình. Bên cạnh đó, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo theo đề nghị của Kiểm sát viên cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của nhà nước và pháp luật, tạo điều kiện cho các bị cáo lao động để trở thành công dân có ích cho xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, xét các bị cáo không có việc làm ổn định nên Hội đồng xét xử không phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 bộ bài tây 52 lá (đã qua sử dụng) là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với số tiền 14.330.000 đồng thu giữ là tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc nên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
[7] Ý kiến tranh luận của các Luật sư bào chữa cho bị cáo Đặng Văn L1 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ nên được chấp nhận.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thành L, Đặng Văn L1, Đào Mạnh D, Lê Công Q, Lê Văn T, Phạm Văn Đ và Trần Thanh B phạm tội “Đánh bạc”.
2. Về hình phạt:
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L: 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án.
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Văn L1: 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm, tính từ ngày tuyên án.
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đào Mạnh D: 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án.
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Công Q: 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm, tính từ ngày tuyên án.
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn T: 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án.
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ: 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm, tính từ ngày tuyên án.
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thanh B: 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm, tính từ ngày tuyên án.
- Căn cứ vào khoản 4 Điều 328 Bộ luật Hình sự: Trả tự do ngay tại phiên tòa cho các bị cáo Nguyễn Thành L, Đặng Văn L1, Đào Mạnh D, Lê Công Q, và Phạm Văn Đ, nếu các bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Giao các bị cáo Nguyễn Thành L, Đặng Văn L1, Lê Văn T và Trần Thanh B cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; giao các bị cáo Đào Mạnh D và Phạm Văn Đ cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; giao bị cáo Lê Công Q cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được cho hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,
- - Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước: 01 (một) bộ bài tây loại 52 lá (đã qua sử dụng).
- (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 137/QĐ-VKS ngày 01/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và Phiếu nhập kho vật chứng số NK24/227C ngày 24/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).
- - Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước: Số tiền 14.300.000 đồng.
- (Theo Giấy nộp tiền ngày 24/4/2024 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ4 - Chi nhánh thành phố T; tên người nộp: Lê Duy T3; người thụ hưởng: Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).
4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Buộc các bị cáo Nguyễn Thành L, Đặng Văn L1, Đào Mạnh D, Lê Công Q, Lê Văn T, Phạm Văn Đ và Trần Thanh B, mỗi bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
- Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
(Đã giải thích về chế định án treo cho các bị cáo)
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Anh Ngọc |
Bản án số 183/2024/HS-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (đánh bạc)
- Số bản án: 183/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành L và đồng phạm phạm tội "Đánh bạc"
