trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
  • search Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tuyến
  • search Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
  • search Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 - HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 183/2025/HSST

Ngày 08/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Cát

Bà Lê Thị Huyền

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hường – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Triệu Thị Hồng – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hà Nội xét xử công khai, theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 169/2025/HSST ngày 14 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 187/2025/QĐXXST-HS ngày 24/11/2025 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn D, sinh năm 1993; Hộ khẩu thường trú: Thôn X, xã X, thành phố Hà Nội; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; đảng phái: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12 (bị cáo khai tại phiên tòa); con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1971; con bà Hoàng Thị H1, sinh năm 1968; Vợ: Phạm Thị Thanh H2, sinh năm 1995 (đã ly hôn); con: có 01 con sinh năm 2012; danh, chỉ bản số 2315 lập ngày 21/8/2025 tại Trại tạm giam số 2; Tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 06/02/2025, Công an huyện C, tp Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị bắt quả tang tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/8/2025.

Bị cáo tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Đình T, sinh năm 1997; Hộ khẩu thường trú: Thôn G, xã X, thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam; qQuốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; đảng phái: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Nguyễn Đình C, sinh năm 1953; con bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1955; Vợ, con: chưa; D1, chỉ bản số 2314 lập ngày 21/8/2025 tại Trại tạm giam số 2; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt quả tang tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/8/2025.

Bị cáo tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ ngày 12/8/2025, Nguyễn Văn D sử dụng mạng xã hội Z gọi đến tài khoản mang tên “Út” của Nguyễn Đình T, rủ T đi mua ma túy dạng “đá” cùng nhau sử dụng. T nói không có tiền và D đồng ý chi tiền để rủ T đi cùng. Sau đó, D đi bộ đến nhà gặp T và đưa cho T 1.000.000 đồng để đi mua ma túy. T cầm số tiền trên, rồi liên lạc qua ứng dụng Telegram với một đối tượng nam giới không quen biết để thỏa thuận mua 1.000.000 đồng ma túy dạng “đá”, với cách thức T để tiền mua ma túy ở cột điện gần cổng trường Trung cấp nghề thuộc thôn X, xã X, thành phố Hà Nội, rồi đợi. Tiếp đó, đối tượng bán ma túy liên lạc lại hướng dẫn T đi đến cột điện ở gần cổng chào tổ dân cư số 8 + 9 + 10, thôn X, xã X, thành phố Hà Nội để lấy ma túy. T cùng D đi bộ theo hướng dẫn đến vị trí trên lấy được 01 túi ni-lông đựng chất tinh thể màu trắng, rồi cùng nhau đi tìm nơi sử dụng. Đến 19 giờ 20 phút cùng ngày, khi T và D cùng nhau đi đến khu vực thôn X, xã X, thành phố Hà Nội thì bị lực lượng công an kiểm tra hành chính, phát hiện T đang cất giấu túi ma túy trên người. Lực lượng công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong túi vật chứng nghi ma túy để phục vụ điều tra.

Vật chứng vụ án:

Khi bắt quả tang Nguyễn Đình T và Nguyễn Văn D, lực lượng công an đã thu giữ 01 túi ni-lông màu trắng, kích thước (5x5)cm, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng (Nghi là ma túy tổng hợp); 01 điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Xiaomi vỏ màu xanh (Tài sản của Nguyễn Đình T); 01 điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu OPPO vỏ màu xanh (Tài sản của Nguyễn Văn D).

Tại bản Kết luận giám định số 5223/KL-KTHS ngày 21/8/2025 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận:

- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi ni-lông là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,633 gam.

Nguồn gốc số ma túy đã thu giữ, các đối tượng khai D đưa tiền cho T và T liên lạc qua ứng dụng Telegram thỏa thuận mua ma túy của đối tượng không quen biết. Sau đó, D và T cùng nhau đi lấy ma túy tại địa điểm do đối tượng bán chỉ dẫn, rồi cùng nhau đem đi sử dụng. Khi giao tiền và nhận ma túy T, D không gặp mặt đối tượng bán nên không nhận dạng được. Ngoài lời khai của T, D nêu trên, không có tài liệu nào khác chứng minh nên không có cơ sở để xác minh nhân thân đối tượng đã bán ma túy nêu trên.

Về nguồn gốc số tiền 1.000.000 đồng các đối tượng sử dụng để mua ma túy trong vụ án, D khai là tiền có được từ lao động tự do.

Đối với 02 chiếc điện thoại di động đã thu giữ, là tài sản của D và T, được sử dụng để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án.

Tại Cáo trạng số 61/CT-VKS-HS ngày 03/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6, thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Đình T, Nguyễn Văn D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi đánh giá hành vi phạm tội, mức độ, vai trò phạm tội các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của bị cáo đã nhận định vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo D có nhân thân xấu nên phải chịu hình phạt cao hơn bị cáo T:

  • + Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 42 đến 48 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
  • + Xử phạt Nguyễn Đình T từ 36 đến 42 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
  • + Về hình phạt bổ sung đề nghị không áp dụng.
  • + Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy 01 phong bì bên trong có chứa ma túy thu giữ; tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Xiaomi vỏ màu xanh của Nguyễn Đình T) và 01 điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu OPPO vỏ màu xanh của Nguyễn Văn D.

- Bị cáo D, bị cáo T khai nhận hành vi phạm tội, đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an xã X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ và phù hợp với các tài liệu khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Nên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 18 giờ ngày 12/8/2025, Nguyễn Văn D rủ Nguyễn Đình T đi mua ma túy dạng “đá”, nhằm mục đích cùng nhau sử dụng. Bị cáo D đưa cho T 1.000.000 đồng để đi mua ma túy. T liên lạc qua ứng dụng Telegram với một đối tượng nam giới không quen biết để thỏa thuận mua 1.000.000 đồng ma túy dạng “đá”. Đối tượng bán ma túy hướng dẫn T để tiền tại cột điện ở cổng trường Trung cấp nghề tại thôn X, xã X, thành phố Hà Nội, sau đó đi đến cột điện gần cổng chào tổ dân cư số 8 + 9 + 10 thôn X, xã X, thành phố Hà Nội để lấy ma túy. T và D đến vị trí hướng dẫn và lấy được 01 túi nilong đựng chất tinh thể màu trắng. Đến 19 giờ 20 phút cùng ngày, T và D cùng nhau đi đến khu vực thôn X, xã X, thành phố Hà Nội để đi tìm nơi sử dụng ma túy thì bị lực lượng công an kiểm tra hành chính, phát hiện T cất giấu túi ma túy trên người và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Kết luận giám định xác định tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong là ma túy loại Methaphetamine, khối lượng 0,633gam.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Đình T, Nguyễn Văn D đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6, thành phố Hà Nội đã truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Đánh giá tính chất mức độ, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xét thấy:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội gây mất trật tự tại địa phương, xâm phạm tới chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy. Ma túy là chất gây nghiện, nó làm ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe người sử dụng, hủy hoại nhân cách con người, là nguyên nhân dẫn đến tan vỡ hạnh phúc gia đình, và còn là nguyên nhân dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật khác. Đối với tệ nạn ma túy cần nghiêm khắc loại bỏ ra khỏi xã hội để cho xã hội có cuộc sống lành mạnh không có tệ nạn ma túy. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T, D không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo D có nhân thân xấu 01 tiền sự tháng 2/2025 về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy chưa được xóa.

Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo T nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo yên tâm cải tạo.

Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn. Bị cáo D là người khởi xướng. Bị cáo T liên hệ để mua ma túy. Hai bị cáo thực hiện hành vi đều tích cực. D có nhân thân xấu 01 tiền sự chưa được xóa, không lấy đó làm bài học lại thực hiện hành vi phạm tội về ma túy nên bị cáo D phải chịu hình phạt cao hơn bị cáo T.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.

[5]. Về xử lý vật chứng:

  • - 01 phong bì niêm phong của Phòng K Công an thành phố H, tại các mép dán có các chữ ký của Giám định viên Vũ Việt C1, cán bộ công an Trương Hùng P, đối tượng Nguyễn Đình T, Nguyễn Văn D, bên trong chứa ma túy thu giữ của bị cáo, là vật chứng của vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, vỏ màu xanh, số IMEL 1: 867105054397897/00, số IMEL 2: 867105054397905/00 đã qua sử dụng thu của Nguyễn Đình T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, vỏ màu xanh, số IMEL 1: 86678751538218, số IMEL 2: 866787051538200 đã qua sử dụng thu của Nguyễn Văn D là phương tiện các bị cáo liên lạc với nhau rủ đi mua ma túy sử dụng nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

[6]. Các nội dung khác:

Nguồn gốc số ma túy đã thu giữ, các đối tượng khai D đưa tiền cho T và T liên lạc qua ứng dụng Telegram thỏa thuận mua ma túy của đối tượng không quen biết. D và T cùng nhau đi lấy ma túy, đem đi sử dụng. Khi giao tiền và nhận ma túy T, D không gặp mặt đối tượng bán nên không nhận dạng được. Ngoài lời khai của T, D nêu trên, không có tài liệu nào khác chứng minh nên không có cơ sở để xác minh nhân thân đối tượng đã bán ma túy nêu trên.

Về nguồn gốc số tiền 1.000.000 đồng các đối tượng sử dụng để mua ma túy trong vụ án, D khai là tiền có được từ lao động tự do. Quá trình điều tra không chứng minh được số tiền trên có nguồn gốc bất hợp pháp nên không có cơ sở để truy cứu trách nhiệm.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định pháp luật.

[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo, Nguyễn Văn D, Nguyễn Đình T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
    • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt quả tang 12/8/2025.
    • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T 03 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt quả tang 12/8/2025.
  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong của Phòng K Công an thành phố H, tại các mép dán có các chữ ký của Giám định viên Vũ Việt C1, cán bộ công an Trương Hùng P, đối tượng Nguyễn Đình T, Nguyễn Văn D.
    • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, vỏ màu xanh, số IMEL 1: 867105054397897/00, số IMEL 2: 867105054397905/00 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, vỏ màu xanh, số IMEL 1: 86678751538218, số IMEL 2: 866787051538200 đã qua sử dụng.

    (Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08 tháng 11 năm 2025 giữa Công an thành phố H và Thi hành án dân sự khu vực 6 – Hà Nội).

  3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án và lệ phí Tòa án.

    Mỗi bị cáo Nguyễn Đình T, Nguyễn Văn D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

    Án xử công khai sơ thẩm. các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - THAND khu vực 6 – Hà Nội;
  • - VKSND khu vực 6 – Hà Nội;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - UBND xã (phường) thay thông báo kết quả xét xử;
  • - Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 183/2025/HSST ngày 08/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 183/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo, Nguyễn Văn D, Nguyễn Đình T có hành vi Tàng trữ trái phép 0,633gam chất ma túy loại Methaphetamine
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger