|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 183/2025/HS-ST Ngày: 27-11-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Thu Hiền.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Chiến
Bà Nguyễn Thị Bích
Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Toán Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 145/2025/TLST- HS ngày 24/10/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 351/2025/QĐXXST-HS ngày 12/11/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đình T, sinh năm 1985; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; Nơi ĐKTT và chỗ ở: thôn N, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn N, xã T, tỉnh Bắc Ninh); quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Đình T1, sinh năm 1962 và bà Tống Thị T2, sinh năm 1965; gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con lớn; bị cáo có vợ là Tống Thị Như Q, sinh năm 1985 và có 04 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2023;
Tiền án, tiền sự: Không có;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại: Ủy ban nhân dân tỉnh B
Địa chỉ: Số H, đường H, phường B, tỉnh Bắc Ninh
Đại diện theo pháp luật: Ông Vương Quốc T3 nay là ông Phạm Hoàng S - Chủ tịch UBND tỉnh B.
Đại diện theo ủy quyền: Ban Q1 thuộc Ban quản lý dự án giao thông và nông nghiệp tỉnh B số 2: Do anh Vũ Hòa A, sinh năm 1987 - Cán bộ kỹ thuật Ban quản lý dự án giao thông và nông nghiệp tỉnh B số 2 đại diện (theo văn bản ủy quyền ngày 5/11/2025, anh A xin vắng mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1987 (có mặt) Địa chỉ: thôn T, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh.
- Anh Phan Ngọc M, sinh năm 1972 (có mặt) Địa chỉ: Khu Bô Thời, xã Việt Tiến, tỉnh Hưng Yên
- Ông Bùi Huy T4, sinh năm 1968 (xin vắng mặt) Địa chỉ: Khu phố Đ, xã L, tỉnh Bắc Ninh.
- Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1992 (vắng mặt) Địa chỉ: Khu dân cư S, phường C, thành phố Hải Phòng.
- Anh Phan Văn T5, sinh năm 1989 (vắng mặt) Địa chỉ: thôn T, phường N, tỉnh Bắc Ninh.
- Anh Đỗ Xuân C1, sinh năm 1975 - Phó giám đốc Ban Q1 (xin vắng mặt)
- Ông Vũ Hòa A, sinh năm 1987 - Cán bộ kỹ thuật Ban Q1 (xin vắng mặt)
- Công ty TNHH T10
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1988 - Giám Đốc
Địa chỉ trụ sở: P301, số D Đ, Quận Đ, thành phố Hà Nội (nay là phường Đ, thành phố Hà Nội) (xin vắng mặt) - Công ty TNHH T11
Đại diện theo pháp luật: Bà Tống Thị Như Q - Giám đốc (xin vắng mặt)
Địa chỉ trụ sở: thôn N, xã T, tỉnh Bắc Ninh - Công ty trách nhiệm hữu hạn V2
Đại diện theo pháp luật: Ông Lý Văn C2 - Giám đốc (có mặt)
Địa chỉ: thôn Đ, xã C, thành phố Hải Phòng
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 26/04/2024, Uỷ ban nhân dân (UBND) thị xã T (cũ) ra Quyết định số 672/QĐ-UBND về việc phê duyệt Chủ trương đầu tư Dự án: Cải tạo hồ cảnh quan trung tâm thị xã T, giao cho Ban quản lý các dự án xây dựng thị xã T làm chủ đầu tư.
Ngày 03/5/2024, Ban quản lý các dự án xây dựng thị xã T ký Quyết định số 164/QĐ-BQLDA về việc thành lập Ban Q1 công trình: Cải tạo hồ cảnh quan trung tâm thị xã T, phân công:
- Ông Đỗ Xuân C1 - Phó Giám đốc Ban làm Giám đốc quản lý dự án;
- Ông Vũ Hòa A - Cán bộ phòng Kỹ thuật và Quản lý chất lượng công trình (QLCLCT) thuộc Ban làm Phó Giám đốc quản lý dự án;
- Ông Nguyễn Văn H - Cán bộ phòng K thuộc Ban làm Thành viên;
- Ông Nguyễn Đức V - Cán bộ phòng Đầu tư và Tư vấn xây dựng (TVXD) làm Thành viên;
- Ông Hà Quốc V1 - Cán bộ phòng Kế hoạch tài chính làm Thành viên.
Làm nhiệm vụ Quản lý dự án xây dựng công trình, có trách nhiệm thực hiện công tác Quản lý dự án xây dựng công trình theo quy định Luật Đầu tư công, Luật xây dựng và các văn bản pháp luật về đầu tư xây dựng cơ bản liên quan. Đảm bảo đúng tiến độ, hồ sơ thiết kế kỹ thuật thi công được duyệt cũng như chất lượng, kỹ, mỹ thuật và các quy trình, quy phạm trong xây dựng cơ bản hiện hành.
· Ngày 30/8/2024, UBND thị xã T ký Quyết định số 1108/QĐ-UBND về việc phê duyệt dự án;
· Ngày 08/11/2024, Giám đốc Ban quản lý các dự án xây dựng thị xã T ký Quyết định số 524/QĐ-BQLDA về việc phê duyệt thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế cơ sở công trình;
· Ngày 12/11/2024, Chủ tịch UBND thị xã T ký Quyết định số 1438/QĐ-UBND về việc phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu công trình;
· Ngày 08/12/2024, Ban quản lý các dự án xây dựng thị xã T tổ chức mở thầu lựa chọn nhà thầu công trình: “Cải tạo hồ cảnh quan trung tâm thị xã T – Gói thầu số 04: Toàn bộ phần xây dựng”. Liên danh Công ty Cổ phần Đ2 (viết tắt là Công ty Đ2), địa chỉ trụ sở: Số A N, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, do ông Vũ Kỳ A1, sinh năm 1981, HKTT: Căn hộ H P KĐT T city, phường M, quận H, thành phố Hà Nội làm Giám đốc và Công ty TNHH X (viết tắt là P), địa chỉ trụ sở: thôn H, xã Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, do ông Đỗ Văn L, sinh năm 1978, HKTT: thôn H, xã Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh làm Giám đốc, là đơn vị trúng thầu (viết tắt là Liên danh Z1288 - P).
· Ngày 20/12/2024, Giám đốc Ban quản lý các dự án xây dựng thị xã T ký Quyết định số 686/QĐ-BQLDA về việc phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu gói thầu số 4: Toàn bộ phần xây dựng công trình.
· Ngày 25/12/2024, Ban quản lý các dự án xây dựng thị xã T ký Hợp đồng thi công xây dựng công trình số 21/2024/HĐXD-BQLDA, Gói thầu số 04: Toàn bộ phần xây dựng công trình: Cải tạo hồ cảnh quan trung tâm thị xã T, với Liên danh Z; Giá trị hợp đồng 17.002.772.000 đồng. Công việc của các thành viên liên danh, cụ thể:
- Thành viên đứng đầu liên danh là Công ty Z1288, do ông Nguyễn Kim S1 - Phó Giám đốc (theo Giấy uỷ quyền ngày 01/01/2024), đại diện Công ty ký hợp đồng. Công ty Đ2 thực hiện công việc với giá trị: 10.502.501.000 đồng (chiếm tỷ lệ khoảng 61,8%), bao gồm thi công các hạng mục:Kè mái hồ; Công trình cấp nước vào Hồ; Khu dừng chân 1; Khu dừng chân 2 (HK1); Khu dừng chân 2 (HK4); Đèn trụ hình lá; Hệ thống chiếu sáng quanh hồ.
- Thành viên liên danh là Công ty P1, do ông Đỗ Văn L - Giám đốc, đại diện ký hợp đồng. Công ty P1 thực hiện công việc với giá trị: 6.500.271.000 đồng (chiếm tỷ lệ 38,2%), bao gồm thi công các hạng mục: Nạo vét lòng H1; Kè mái Hồ). (BL 89)
· Cùng ngày 25/12/2024, Ban quản lý các dự án xây dựng thị xã T ký Quyết định số 695/QĐ-BQLDA về việc phân công cán bộ giám sát thi công xây dựng công trình: Cải tạo hồ cảnh quan trung tâm thị xã T, gồm:
- Ông Đỗ Xuân C1 - Phó Giám đốc Ban phụ trách dự án;
- Ông Vũ Hòa A - Cán bộ phòng Kỹ thuật và QLCLCT thuộc Ban làm Giám sát trưởng;
- Ông Nguyễn Văn H - Cán bộ phòng K thuộc Ban làm Thành viên;
- Ông Nguyễn Văn H2 - Cán bộ phòng K thuộc Ban làm Thành viên. (BL 83)
Thực hiện công tác giám sát kỹ thuật thi công xây dựng công trình theo quy định Luật xây dựng, Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/01/2021 của Chính phủ về Quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng. Đảm bảo đúng tiến độ, hồ sơ thiết kế báo cáo tài chínhđược duyệt cũng như chất lượng, kỹ, mỹ thuật và các quy trình, quy phạm trong xây dựng cơ bản hiện hành.
Ngày 26/12/2024, sau khi Ban quản lý các dự án xây dựng thị xã T ký Hợp đồng thi công xây dựng công trình số 21/2024/HĐXD-BQLDA, Gói thầu số 04: Toàn bộ phần xây dựng công trình: Cải tạo hồ cảnh quan trung tâm thị xã T với Liên danh Z1288 - P, Công ty P1 đã ký Hợp đồng thi công xây dựng số 03/2024/HĐTCXD/PA-VX với Công ty TNHH T10 (viết tắt Công ty T10), địa chỉ trụ sở: P301, số D Đ, quận Đ, thành phố Hà Nội, do ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1988, HKTT: căn hộ 1634, Hh01a, xã C, huyện T, thành phố Hà Nội, làm Giám đốc. Theo nội dung hợp đồng, Công ty T10 sẽ thực hiện thi công một phần hạng mục công việc trong gói thầu liên danh mà Công ty P1 thực hiện, cụ thể: Công ty T10 thực hiện công việc: “nạo vét lòng hồ và vận chuyển đến vị trí bãi đổ thải được cấp phép theo quy định của pháp luật nếu sai phạm chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật”, tổng giá trị hợp đồng là: 1.728.739.000 đồng. (BL 217)
Để thực hiện công việc theo hợp đồng đã ký, ngày 16/01/2025 Công ty T10 ký Hợp đồng giao khoán số 1601/2025/HĐKT với Công ty TNHH T11 (viết tắt là Công ty T11), địa chỉ trụ sở: xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Ninh, do Tống Thị Như Q, sinh năm 1985, HKTT: xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Ninh làm Giám đốc. Theo nội dung hợp đồng giao khoán, khối lượng công việc phục vụ thi công công trình với đơn giá cụ thể như sau: Nội dung công việc: “Các công tác làm đường công vụ, đào nạo vét bùn, vận chuyển trạc bùn đổ đi, đào đất lấy đất thịt tận dụng đắp mái kè của 2 hồ cảnh quan, còn thừa bao nhiêu đổ đi; Khối lượng trọn gói; Đơn giá: 900.000.000 đồng. Cũng theo Hợp đồng đã ký, được nêu tại khoản 3.1. Điều 3: Trách nhiệm của Bên B là: “Chịu trách nhiệm về pháp lý khi tập kết bùn đất về bãi đổ của mình và có quyền xử lý đất thải đó”. (BL 416-418)
Đến khoảng cuối tháng 02/2025, khi Công ty T11 bắt đầu triển khai thực hiện thi công theo hợp đồng giao khoán việc, Công ty T10 giao cho anh Nguyễn Xuân L1, sinh năm 1990, HKTT: Đội 5, thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên làm bảo vệ, trông coi tại Dự án. Còn về phía Công ty T11 giao cho Nguyễn Đình T, sinh năm 1985, HKTT: thôn N, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Ninh, là quản lý của Công ty T11, chịu trách nhiệm quản lý, điều hành thi công. Sau đó, T thuê anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1992, HKTT: khu dân cư S, P, huyện C, tỉnh Hải Dương; anh Đặng Đình T6, sinh năm: 1982, HKTT: thôn N, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Ninh; anh Phạm Văn B, sinh năm 1989, HKTT: xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Ninh; anh P, sinh năm 1985, HKTT: thị xã C, tỉnh Hải Dương,điều khiển 04 máy xúc của Công ty T11 để thi công nạo vét lòng hồ (hồ S và hồ số 02) và thuê ông Dương Văn C3, sinh năm 1965, HKTT: thị trấn T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh có nhiệm vụ theo dõi, chấm các xe ô tô đến công trường vận chuyển đất.
Theo hồ sơ thiết kế, “Hồ số 01”, có diện tích 100m x 100m = 10.000m²; Diện tích nạo vét lòng hồ là 85m x 80m = 6.800m²; độ sâu nạo vét xuống 01m so với cao độ, mặt đáy hồ; đất bùn nạo vét được tận dụng để đắp mái kè, phần đất thừa thì vận chuyển đến vị trí bãi đổ thải được cấp phép theo quy định của pháp luật (cụ thể vị trí đổ thải theo đề xuất của Nhà thầu là bãi tập kết của Công ty cổ phần B1, địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh). Nhưng trong quá trình thi công nạo vét lòng “Hồ số 01”, T đã đào sâu hơn so với thiết kế là 0,31m (tức 1,31m). Phần đất bùn khi nạo vét được Công ty T11 sử dụng để đắp phần mái kè sau khi đã bóc loại bỏ phần đất phong hoá. Theo hồ sơ thiết kế phần đất còn lại khi nạo vét, T thấy có thể tận dụng để sản xuất gạch, nên đã liên hệ với chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1987, HTTT: xã G, huyện G, tỉnh Bắc Ninh để bán với giá 35.000đ/m³ đất, giá được tính tại công trình múc lên xe ô tô. Sau khi thoả thuận việc mua bán đất với T, chị C liên hệ với ông Phan Ngọc M, sinh năm 1972, HKTT: khu B, xã V, tỉnh Hưng Yên, để bán đất cho Nhà máy G thuộc Công ty TNHH V2, địa chỉ: xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương. Chị C thoả thuận với ông M giá bán phần đất trên là 85.000đ/1m³ (bao gồm cả chi phí vận chuyển đến khu vực bãi chứa nguyên liệu của Nhà máy gạch).
Sau khi thoả thuận về giá bán và giá mua khối lượng đất nạo vét với T và ông M, chị C liên hệ với anh Phan Văn T5, sinh năm 1989, HKTT: thôn T, phường N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh, để thuê anh T5 vận chuyển khối lượng đất nạo vét tại lòng “Hồ số 01” của công trình, đến bán cho Nhà máy G. Theo thoả thuận giữa chị C và anh T5 thì tiền cước xe vận chuyển đất đến đổ tại Nhà máy G là 35.000đ/m³. Như vậy, số tiền bán đất nạo vét tại “Hồ số 01” của Dự án mà chị C mua của T được chị C trả cho T số tiền là 35.000đ/m³ đất; trả tiền thuê cước vận chuyển cho anh T5 số tiền là 35.000đ/m³, còn lại chị C được hưởng số tiền là 15.000đ/m³.
Từ ngày 01/3/2025, chị C bảo anh T5 cho xe ô tô đến công trình vận chuyển đất. Khi các xe ô tô được anh T5 đưa đến công trình, T chỉ đạo anh Nguyễn Văn Đ (là người được T thuê lái máy xúc), điều khiển máy xúc của Công ty T11, đang thực hiện việc thi công nạo vét tại Dự án, múc phần đất nạo vét lên xe ô tô của anh T5. (BL 393-396)
Trong quá trình Nhà thầu thi công nạo vét lòng “Hồ số 01”, ngày 03/3/2025 để đảm bảo tiến độ thi công, anh Đỗ Xuân C1 - Phó Giám đốc Ban quản lý đã có văn bản yêu cầu Nhà thầu thi công đẩy nhanh tiến độ và yêu cầu Nhà thầu thi công phải vận chuyển phần bùn, đất nạo vét về đúng nơi quy định. Đến ngày 07/3/2025, anh C1 và anh Vũ Hòa A là giám sát trưởng tại công trình “yêu cầu Nhà thầu thi công vận chuyển phần bùn, đất nạo vét ra khu đất thuộc Dự án xây dựng sân vận động thị xã T để đổ”. Vì vậy, từ ngày 07/3/2025 đến ngày 10/3/2025, T thuê các phương tiện vận chuyển của chị C vận chuyển phần bùn, đất nạo vét ra khu vực sân bóng đổ theo yêu cầu của Chủ đầu tư, với giá là 17.000đ/m³. Đến ngày 11/3/2025, T lại tiếp tục múc phần đất nạo vét tại dự án, bán cho chị Nguyễn Thị C. Lúc này, anh Vũ Hòa A - Tư vấn Giám sát trưởng dự án phát hiện thấy việc Nhà thầu thi công không vận chuyển phần đất nạo vét đến vị trí tập kết theo đúng quy định, nên đã lập Biên bản hiện trường và yêu cầu Nhà thầu thi công phải vận chuyển phần đất thải đến sân vận động thị xã T để đổ, tập kết chờ xử lý khi cơ quan có thẩm quyền cho phép. (BL 85, 86)
Căn cứ Bảng tổng hợp xe chạy tháng 03/2025 mà Phan Văn T5 cung cấp (thể hiện ngày chạy, Biển số xe, nội dung “Đất luy lâu - nhà máy G”, số lượng xe, số m³/chuyến, tổng m³, nơi múc: “Luy lâu”, nơi đổ: “nhà máy G”, ghi chú: “sang chính”); tin nhắn chốt số liệu giữa các lái xe và kế toán của Công ty T12, do Phan Văn T5 làm Giám đốc, được thể hiện trên nhóm Zalo quản lý xe của Công ty, xác định:
- Từ ngày 01/3/2025 đến ngày 07/3/2025 và từ ngày 12/3/2025 đến hết ngày 21/3/2025: anh T5 đã thuê anh Phan Khắc H3, sinh năm 1987, trú tại: xã T, tỉnh Bắc Ninh; anh Trần T7, sinh năm 1989, trú tại: TDP B, phường N, tỉnh Bắc Ninh; anh Nguyễn Ngọc T8, sinh năm 1994, trú tại: phường M, tỉnh Bắc Ninh; anh Chu Văn C4, sinh năm 1995, trú tại: xã T, tỉnh Lạng Sơn; anh Nguyễn Bình Tuấn A2, sinh năm 1984, trú tại: thôn N, xã P, tỉnh Bắc Ninh; anh Nguyễn Tuấn D, sinh năm 1992, trú tại: phường N, tỉnh Bắc Ninh, sử dụng các phương tiện xe ô tô, gồm: 99C-176.36; 99C-280.57; 99C-292.74; 99C-312.91; 88C-205.38; 99C-238.17 và 99C-194.68 vận chuyển đất thuê cho chị C từ dự án cải tại hồ C thị xã T đến Nhà máy G, tổng số là 384 chuyến; tổng khối lượng 7.013,9m³.
- Từ ngày 07/3/2025 đến ngày 10/3/2025: anh T5 sử dụng các phương tiện xe ô tô gồm: 99C-194.68; 99C-238.17 và 99C-176.36 vận chuyển đất nạo vét lòng “Hồ số 01” đổ tại Dự án xây dựng sân vận động thị xã T là: 84 chuyến, mỗi chuyến xe được khoảng 20m³ đất, tổng khối lượng là khoảng hơn 1.700m³. (BL 313-321)
Đối với các phương tiện khi vận chuyển đất đến Nhà máy G, được bảo vệ của Nhà máy gạch ghi chép lại, sau đó chuyển cho bộ phận hành chính kế toán của Công ty TNHH V2 để theo dõi, quản lý. Tuy nhiên, quá trình điều tra, xác minh và làm việc với chị Đào Phương T9, sinh năm 2001, trú tại: xã C, huyện K, tỉnh Hưng Yên - Nhân viên phòng Kế toán Công ty TNHH V2 thì chị T9 chỉ nhận được Sổ ghi chép các phương tiện vận chuyển đất từ thị xã T, tỉnh Bắc Ninh vào Nhà máy gạch, được ghi chép từ ngày 18/03/2025 đến hết ngày 21/03/2025, vào các buổi tối, được khối lượng là 2.912,3m³ đất. Còn các ngày trước đó thì chị T9 không trực tiếp nhận Sổ ghi chép, bảo vệ nộp cho ai thì chị T9 không rõ nên không có để cung cấp cho Cơ quan điều tra. (BL 305)
Khối lượng đất nạo vét mà chị C mua của T tại công trình Dự án trên, vận chuyển đến Nhà máy G bán cho ông M, đã được ông M tạm thanh toán số tiền 300.000.000 đồng cho chị C, thông qua số tài khoản 0824878882, mở tại Ngân hàng M1 của chị T9 chuyển vào số tài khoản của chị C (số tài khoản 43210000963174, Ngân hàng B2) vào ngày 19/3/2025.
Đối với khối lượng đất mà T bán cho chị C, chị C đã thanh toán trước cho T số tiền là 150.000.000 đồng (chị C chuyển từ tài khoản số 4321000096374 Ngân hàng BIDV của chị C vào tài khoản 10688899366 Ngân hàng V3 chi nhánh L2 của T. Các giao dịch được thực hiện vào ngày 12/3/2025 và ngày 15/3/2025). Chị C đã thanh toán tiền cước xe cho anh T5 số tiền là 200.000.000 đồng, bằng hình thức chuyển khoản vào số tài khoản 1671079999999 của anh T5, mở tại Ngân hàng TMCP A3 vào ngày 17/03/2025 và ngày 21/03/2025.
Đến ngày 22/03/2025, T thấy Cơ quan Công an đang tiến hành xác minh việc khai thác, vận chuyển đất nạo vét tại Dự án trên nên đã dừng việc múc đất bán cho chị C. Ngày 25/3/2025, Nguyễn Đình T đến Công an đầu thú.
* Xác minh tại Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh B, xác định:
- Sở Nông nghiệp và Môi trường chưa tiếp nhận, giải quyết hồ sơ để thẩm định, trình UBND tỉnh B cấp Giấy phép khai thác khoáng sản tại khu vực nêu trên: Dự án “Cải tạo hồ cảnh quan trung tâm thị xã T - Gói thầu số 4” do Ban quản lý các dự án xây dựng thị xã T làm chủ đầu tư.
- Căn cứ Luật khoáng sản năm 2010 quy định tại điểm d, khoản 1 Điều 55. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản.
“1. Tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản có các quyền sau đây:
...d) Cất giữ, vận chuyển, tiêu thụ và xuất khẩu khoáng sản đã khai thác theo quy định của pháp luật;"
Theo quy định của Luật khoáng sản năm 2010 thì các tổ chức, cá nhân được cấp Giấy phép khai thác khoáng sản, được phép vận chuyển, tiêu thụ khoáng sản sau khai thác theo quy định của pháp luật.
Như vậy, tại Dự án “Cải tạo hồ cảnh quan trung tâm thị xã T” do Ban quản lý các dự án xây dựng thị xã T làm chủ đầu tư, chưa được cấp Giấy phép khai thác khoáng sản thì các tổ chức, cá nhân không được phép vận chuyển, tiêu thụ khoáng sản sau khai thác theo quy định của pháp luật.
* Kết quả khám nghiệm hiện trường.
- Khám nghiệm hiện trường và đo xác định khối lượng đất tại khu vực thi công nạo vét lòng “Hồ số 01”, xác định:
Tổng khối lượng đất đã khai thác tại Dự án là: 85m x 80m x 1,31m = 8.908m³ (Trong đó: khối lượng đất đã khai thác theo thiết kế là: 85m x 80m x 1m = 6.800m³ và khối lượng đất khai thác vượt quá theo thiết kế là 85m x 80m x 0,31m = 2.108m³).
- Tổng khối lượng đất sử dụng để đắp mái kè tại Dự án là: 2.336m³; (BL 36) - Khám nghiệm hiện trường và đo xác định khối lượng đất vận chuyển đến Dự án sân vận động T13 có mái che thị xã T, xác định:
Tổng khối lượng đất sử dụng đã đổ tại Dự án sân vận động T13 có mái che thị xã T là: 1.750m³. (BL 38) - Khám nghiệm hiện trường và đo xác định khối lượng đất vận chuyển đến Nhà máy G, xác định:
Khối lượng đất đã đổ, tập kết tại Nhà máy G thuộc Công ty TNHH V2 là: 137,3m x 30,6m x 2,7m = 11.342m³.
Tuy nhiên, theo Công ty TNHH V2 thì khối lượng đất theo kết quả khám nghiệm nêu trên bao gồm đất của chị Nguyễn Thị C bán khoảng hơn 7.000m³, còn lại nguyên liệu đất của Công ty V2 đã có sẵn. Do nguyên liệu đất được đổ lẫn tại khu tập kết nguyên liệu của Nhà máy G, nên không xác định được cụ thể khối lượng đất đã mua của chị C đổ tại vị trí nào.
* Trưng cầu giám định chủng loại và khối lượng đất khai thác trái phép tại Dự án.
Trên cơ sở Quyết định trưng cầu của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B, ngày 20/05/2025, Giám định viên tư pháp thuộc Cơ quan giám định: Phòng K1, Công an tỉnh B, kết luận:
- Mẫu vật chất ký hiệu “Số 01” thu tại hồ số 01 của dự án “Cải tạo hồ cảnh quan trung tâm thị xã T - Gói thầu số 4” phường Hồ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh gửi giám định là đất; Loại đất sét.
- Mẫu vật chất ký hiệu số “Số 02” thu tại Dự án sân vận động T13 có mái che thị xã T, địa chỉ: phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh gửi giám định là đất; Loại đất sét.
- Mẫu vật chất ký hiệu số “Số 03”thu tại khu vực chứa nguyên liệu Nhà máy G thuộc Công ty TNHH V2 gửi giám định là đất; Loại đất sét.
- Không đủ cơ sở kết luận các mẫu vật chất ký hiệu “Số 01”, “Số 02” và “Số 03” gửi giám định có cùng loại đất hay không.
- Tổng khối lượng vật chất (tính theo thể tích) được khai thác tại khu vực hồ số 01 của Dự án “Cải tạo hồ cảnh quan trung tâm thị xã T - Gói thầu số 4” là 8.908m³. (BL 76-77)
* Trưng cầu giám định hệ số tơi của đất sét khai thác trái phép.
Trên cơ sở Quyết định trưng cầu của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B, ngày 02/06/2025, Trung tâm kiểm định chất lượng và kinh tế xây dựng thuộc Sở X có Văn bản số 255/TTKÐ-KĐCL, xác định:
- Việc xác định hệ số tơi của đất sét tại Dự án theo Quyết định trưng cầu: hiện tại, chưa có tiêu chuẩn chỉ dẫn cụ thể để thực hiện các phép thử, thí nghiệm để xác định chính xác hệ số tơi của đất sét theo điều kiện thi công thực tế tại hiện trường công trình như Quyết định trưng cầu mô tả. Vì thế, không đủ điều kiện để Trung tâm kiểm định chất lượng và kinh tế xây dựng thực hiện và kết luận giám định theo trưng cầu.
- Cơ quan Cảnh sát điều tra có thể tham khảo, vận dụng hệ số chuyển thể tích từ đất tự nhiên sang đất tơi theo Phụ lục C của TCVN 4447:2012: Công tác đất - Thi công và nghiệm thu.
Căn cứ theo Bảng C.1- Hệ số chuyển thể tích từ đất tự nhiên sang đất tơi: đất sét (từ 01m³ đất tự nhiên sang đất tơi có hệ số từ 1,26m³ đến 1,32m³), có thể áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị can thì tính theo hệ số: 01m³ đất sét tự nhiên sang đất sét tơi có hệ số 1,26m³. (BL 79)
Như vậy, khối lượng đất sét tự nhiên mà Nguyễn Đình T đã khai thác tại Dự án trên là 8.908m³. Hệ số tơi của đất sét sau khi đã được khai thác lên là: 8.908m³x 1,26m³ = 11.224,08m³, trong đó:
- Khối lượng đất sét sau khai thác tại Dự án sử dụng đắp mái kè tại Dự án là 2.336m³.
- Khối lượng đất sét sau khai thác tại Dự án trên đã đổ tại Dự án sân vận động T13 có mái che thị xã T là 1.750m³.
- Khối lượng đất sét sau khai thác tại Dự án/đã đổ tại Nhà máy G - 2.336m³ - 1.750m³ = 7.138,08m³.
* Kết quả định giá: Trên cơ sở yêu cầu định giá tài sản của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, ngày 03/6/2025 Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự thuộc UBND tỉnh B có Kết luận định giá tài sản số 19/KL-ĐGTS, xác định: Giá của 01m³ khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường (đất sét làm gạch, ngói), tại thời điểm tháng 03/2025 là 50.000 đồng/m³
Như vậy, trị giá khoáng sản mà Nguyễn Đình T đã khai thác, mang bán trái phép là: 7.138,08m³ x 50.000đ = 356.904.000 đồng; Số tiền thu lợi bất chính là 7.138,08m³ x 35.000đ/1m³ = 249.832.800 đồng.
* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu: Số tiền 150 triệu đồng do Nguyễn Đình T tự nguyện giao nộp.
- Đối với khối lượng 7.138,08m³ đất nạo vét lòng hồ số 01 tại dự án vận chuyển đến Nhà máy G đã được đổ tại khu vực chứa nguyên vật liệu của Nhà máy gạch, lẫn lộn cùng với khối lượng nguyên vật liệu (đất) của Nhà máy, do vậy không thể xác định được khối lượng đất nạo vét tại lòng hồ số 1 của dự án, đã đổ tại Nhà máy gạch, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để ra Quyết định tạm giữ khối lượng đất nạo vét tại dự án trên theo quy định.
- Đối với chiếc máy xúc mà T sử dụng để múc đất trái phép tại dự án, vận chuyển đi tiêu thụ là của Công ty T11 sử dụng để thi công nạo vét lòng hồ số 01 tại dự án, múc đất vận chuyển đi đổ, theo hợp đồng khoán việc với Công ty T10. Việc T sử dụng máy xúc, múc đất mang đi bán, chị Tống Thị Như Q - Giám đốc Công ty T11 không biết gì, nên Cơ quan điều tra không tạm giữ đối với chiếc máy xúc trên.
Quá trình điều tra, truy tố, Nguyễn Đình T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Ngày 06/10/2025, UBND tỉnh B có Văn bản số 3266/UBND-KTN với nội dung: Đồng ý việc yêu cầu bồi thường đối với số tiền đã gây thiệt hại cho Nhà nước thông qua việc vận chuyển, tiêu thụ khối lượng vật chất theo kết luận điều tra vụ án hình sự của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh B ngày 26/9/2025.
Tại bản Cáo trạng số 28/CT-VKSBN-P3 ngày 09/10/2025 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo: Nguyễn Đình T về tội “Vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 227 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Đình T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố. Quá trình bán đất bị cáo không nói với ai về việc không có giấy phép khai thác. Bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình, đã tự nguyện nộp toàn bộ số tiền 356.904.000 đồng để khắc phục toàn bộ hậu quả. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để tạo điều kiện cho bị cáo được tiếp tục lao động, sản xuất tại địa phương.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị C trình bày: chị không biết việc bị cáo Nguyễn Đình T khai thác trái phép số lượng đất sét trên. Số tiền anh M chuyển 300.000.000 đồng chị đã thanh toán cho bị cáo T 150.000.000 đồng bằng chuyển khoản, còn 200.000.000 đồng chuyển cho T5 là tiền thuê xe. Chị không được hưởng lợi đồng nào.
Ông Lý Văn C2 trình bày: Công ty ông đề nghị trả lại số đất sét trên, hiện nay Công ty chưa nhận được quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
* Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích các tình tiết của vụ án đã giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên”.
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 3 Điều 227; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng.
- Phạt bổ sung bị cáo từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Nguyễn Đình T phải bồi thường cho Ủy ban nhân dân tỉnh B số tiền 356.904.000 đồng. Xác nhận bị cáo T đã nộp 356.904.000 đồng.
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đình T phải chịu án phí 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
* Bị cáo Nguyễn Đình T không tranh luận.
* Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật. Xin Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ nhất bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố xét xử: Kể từ khi khởi tố vụ án hình sự, trong giai đoạn điều tra, truy tố vụ án, HĐXX thấy Điều tra viên, Kiểm sát viên đã cơ bản thực hiện đúng các quy định của pháp luật, không có vi phạm gì. Tại giai đoạn xét xử sơ thẩm, Kiểm sát viên thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, không có hành vi, quyết định tố tụng nào vi phạm tố tụng.
- Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Bị hại, một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản của Tòa án về thời gian mở phiên tòa nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy quá trình điều tra đã có lời khai của những người này nên việc vắng mặt của họ không trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng trên theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về hành vi theo bản Cáo trạng truy tố đối với bị cáo: Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Đình T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, định giá, đã đủ căn cứ xác định: Trong khoảng thời gian từ ngày 01/3/2025 đến ngày 21/3/2025, Nguyễn Đình T biết rõ Dự án “Cải tạo hồ cảnh quan trung tâm thị xã T - Gói thầu số 04: Toàn bộ phần xây dựng” chưa được UBND tỉnh B cấp Giấy phép khai thác khoáng sản, nhưng T với vai trò là quản lý, điều hành thi công của Công ty T11 tại Dự án đã bán cho Nguyễn Thị C 7.138,08m³, Loại đất sét, trị giá 356.904.000 đồng với giá 35.000 đồng/m³. Sau đó, chị C thuê Phan Văn T5 vận chuyển bán lại cho anh Phan Ngọc M với giá 85.000 đồng/m³, để đưa vào Nhà máy G thuộc Công ty TNHH V2 sản xuất gạch. Như vậy số tiền T thu lợi bất chính là 249.832.800 đồng (7.138,08m³x 35.000đ). Đến nay, anh M đã trả cho chị C 300.000.000 đồng và chị C trả cho T số tiền 150.000.000 đồng và trả cho anh T5 200.000.000 đồng tiền thuê xe.
Như vậy, trị giá khoáng sản mà Nguyễn Đình T đã khai thác, mang bán trái phép là: 7.138,08m³ x 50.000đ = 356.904.000 đồng. Bị cáo gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước số tiền 356.904.000 đồng vi phạm khoản 2 Điều 4, Điều 8 và điểm d, khoản 1 Điều 55 Luật Khoáng sản năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2018. - Hành vi của bị cáo Nguyễn Đình T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 227 Bộ luật Hình sự. Do đó Cáo trạng số 28/CT-VKSBN-P3 ngày 09/10/2025 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Đình T theo tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý của nhà nước về khai thác tài nguyên, gây thất thoát tài nguyên. Bị cáo là người có đủ năng lực nhận biết về hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật, gây ảnh hưởng đến quá trình thực hiện các dự án trên địa bàn. Do đó cần xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa ngừa chung cho loại tội phạm này.
- Về nhân thân bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Đình T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 356.904.000 đồng khắc phục toàn bộ hậu quả. Bị cáo đầu thú trình bày hành vi phạm tội của mình. Do đó, bị cáo T được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt chính: Bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, ổn định. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khắc phục toàn bộ thiệt hại, thể hiện thái độ tôn trọng pháp luật. Với các tình tiết trên, Hội đồng xét xử nhận thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt biết tuân thủ pháp luật như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp có căn cứ, vừa thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, vừa bảo đảm tính răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội vì mục đích vụ lợi, nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo để thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật theo quy định tại khoản 3 Điều 227 Bộ Luật hình sự.
- Về trách nhiệm dân sự: Hành vi của bị cáo Nguyễn Đình T đã gây thiệt hại cho Nhà nước 356.904.000 đồng nên áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Nguyễn Đình T phải bồi thường cho Ủy ban nhân dân tỉnh B số tiền 356.904.000 đồng.
Xác nhận bị cáo Nguyễn Đình T đã nộp khắc phục toàn bộ thiệt hại là 356.904.000 đồng (trong đó số tiền 150.000.000đ tại biên lai thu số 0000634 ngày 30/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh và số tiền 206.904.000 đồng tại biên lai thu số 0000782 ngày 20/11/2025 của Thi hành án dân sự Bắc Ninh).
Ngoài ra, Ủy ban nhân dân tỉnh B không có yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. - Đối với chị Nguyễn Thị C là người mua đất của T rồi bán lại cho anh Phan Ngọc M để đưa vào Nhà máy gạch G sản xuất gạch, anh M đã chuyển trả cho chị C 300.000.000 đồng nhưng chị C đã chuyển cho anh T5 200.000.000 đồng tiền vận chuyển và chuyển cho T 150.000.000 đồng. Chính chưa được thu lời bất chính số tiền nào và chị C và anh M không biết khối lượng đất mà T bán chưa được cấp Giấy phép khai thác khoáng sản, không được vận chuyển đi tiêu thụ. Do vậy, Cơ quan điều tra không xử lý đối với chị C và anh M là phù hợp.
- Đối với anh Đỗ Xuân C1 - Phó Giám đốc Ban quản lý, được phân công làm Giám đốc quản lý dự án và anh Vũ Hòa A - Cán bộ phòng K thuộc Ban được phân công làm Phó Giám đốc quản lý dự án, giám sát trưởng.Sau khi biết việc các phương tiện không vận chuyển đất đến vị trí tập kết theo quy định, anh C1 đã có văn bản và anh A đã có biên bản làm việc với Nhà thầu thi công, yêu cầu quá trình thi công phải đảm bảo kỹ thuật, tiến độ thi công và không được vận chuyển đất đi nơi khác mà phải đổ đúng vị trí quy định. Nhưng sau đó, T đã lợi dụng ban đêm để múc đất, vận chuyển đi bán. Tuy nhiên, do đơn vị thi công vẫn đang thực hiện thi công nạo vét, chưa báo cáo nghiệm thu tiến độ hoàn thành; đơn vị tư vấn giám sát chưa kiểm tra, đo đạc; diện tích khu vực nạo vét lòng hồ số 01 rộng, độ đào sâu vượt quá so với thiết kế tại dự án không nhiều, quan sát bằng mắt thường không thể phát hiện được; việc múc đất, vận chuyển diễn ra trong thời gian ngắn nên anh C1 và anh A, cũng như các thành viên được phân công thực hiện quản lý dự án và giám sát thi công xây dựng tại dự án không phát hiện được. Do vậy, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với anh C1 và anh A, cũng như các thành viên khác được phân công quản lý dự án và giám sát thi công xây dựng tại dự án là phù hợp.
- Đối với anh Phan Văn T5 là người được chị C thuê vận chuyển và những người điều khiển máy xúc múc đất, các lái xe ô tô vận chuyển đất không biết đất tại dự án chưa được cấp phép khai thác. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
- Đối với khối lượng đất vận chuyển vào Nhà máy G đã được công nhân Nhà máy san gạt, trộn lẫn, xử lý với đất khác để đưa vào phục vụ sản xuất. Khi mua khối lượng đất trên Công ty TNHH V2 thông qua Nguyễn Thị C, không biết khối lượng đất này là do khai thác trái phép mà có. Cơ quan điều tra có Văn bản đề nghị Cơ quan Thuế thành phố H xem xét, xử lý theo quy định pháp luật đối với Công ty TNHH V2 về việc mua nguyên liệu không có nguồn gốc hợp pháp là có căn cứ.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 3 Điều 227; điểm b, s, i khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T 12 (mười hai) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/11/2025.
Giao bị cáo cho UBND xã T, tỉnh Bắc Ninh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Đình T 50.000.000đồng (Năm mươi triệu đồng) sung quỹ Nhà nước. - Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 589 Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Nguyễn Đình T phải bồi thường cho Ủy ban nhân dân tỉnh B số tiền 356.904.000 đồng.
Xác nhận bị cáo Nguyễn Đình T đã nộp số tiền 356.904.000 đồng (Ba trăm năm mươi sáu triệu chín trăm linh tư nghìn đồng). Trong đó số tiền 150.000.000đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) tại biên lai thu số 0000634 ngày 30/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh và số tiền 206.904.000 đồng (Hai trăm linh sáu triệu chín trăm linh tư nghìn đồng) tại biên lai thu số 0000782 ngày 20/11/2025 của Thi hành án dân sự Bắc Ninh. - Về án phí:
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Đình T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014. - Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Hoàng Thị Thu Hiền |
Bản án số 183/2025/HS-ST ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về vi phạm quy định về khai thác tài nguyên (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 183/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T phạm tội vi phạm về khai thác tài nguyên
