TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 183/2025/HS-PT Ngày: 11 - 3 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chương
Các Thẩm phán: Ông Trần Đức Hiếu
Ông Lê Quang Chiều
- Thư ký phiên tòa: Ông Lý Minh Chính - Thư ký Toà án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:
Bà Lý Thị Mai Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 97/2025/TLPT-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2025/QĐXXPT-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Lê Thị H do có kháng cáo của bị cáo Lê Thị H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 278/2024/HS-ST ngày 19 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.
Bị cáo có kháng cáo:
Lê Thị H, sinh năm 1970 tại: Hà Nam; Giới tính: nữ; Tên gọi khác: Không; HKTT: Phòng 311 nhà A, tổ A, phường M, quận C, TP .; Nơi ở hiện nay: A22, tập thể Đ, tổ I, phường M, quận C, TP .; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 07/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lê Đăng H1 (Đã chết); Con bà: Phan Thị T. Gia đình có 07 (B) anh em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: 03 (Ba) tiền án đã xóa án tích.
- Bản án số 23/HS-ST ngày 22/8/1989, Tòa án quân sự quân khu Thủ đô Hà Nội xử phạt 04 (Bốn) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 04 (Bốn) năm 06 (S) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Bản án phúc thẩm số 193HS/PT1 ngày 12/02/1990, Tòa án quân sự cấp cao xử phạt 04 (B) năm tù về tội Cố ý gây thương tích (Phạm tội khi 17 tuổi 10 tháng 12 ngày). Ra trại ngày 20/02/1992.
- Bản án số 74/HSST ngày 07/6/2001, TAND quận Cầu Giấy xử phạt 42 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Phạt 5.000.000 (Năm triệu) đồng tịch thu sung công. Đã thi hành xong phần dân sự. Ra trại ngày 19/10/2002.
- Bản án số 71/HSST ngày 28/3/2006, TAND quận Cầu Giấy xử phạt 42 (Bốn mươi hai) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Đã thi hành xong phần dân sự. Ra trại ngày 23/10/2008.
D bản, chỉ bản số 827 do Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an quận C, TP . lập ngày 02/01/2024. Bị cáo bị bắt trong trường hợp khẩn cấp ngày 25/12/2023. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an Thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo: Ông Nguyễn Đình P, sinh năm 1981; Nơi thường trú: Số B ngõ B Hồ T, phường M, quận C, TP . (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 45 phút ngày 25/12/2023, tại khu vực trước số nhà A D, Phường M, Quận C, Thành phố Hà Nội. Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma tuý (PC04) - Công an Thành phố H phối hợp cùng Công an Phường M, Cầu G, Hà Nội đang làm nhiệm vụ phát hiện Nguyễn Đình P (sinh năm: 1981, Nơi thường trú: Số B ngõ B Hồ T, Phường M, Cầu G, Hà Nội) điều khiển xe mô tô Honda Wave RS, biển kiểm soát: 29X7-198.16 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành dừng xe để kiểm tra. Quá trình kiểm tra, cơ quan Công an phát hiện thu giữ bên trong túi áo khoác phía trước bên trái P đang mặc có 01 (Một) gói giấy màu xanh bên trong chứa chất bột màu trắng. Ngoài ra, cơ quan Công an tạm giữ của P 01 (Một) điện thoại di động N màu đen lắp sim số 0344201270, 01 (Một) xe mô tô Wave RS, biển kiểm soát: 29X7-198.16. Tại cơ quan Công an, Nguyễn Đình P khai nhận về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Khoảng 12 giờ 30 ngày 25/12/2023, P điện thoại cho Lê Thị H hỏi mua 100.000 đồng ma túy, H đồng ý. Sau đó, P điều khiển xe mô tô Honda Wave RS, biển kiểm soát: 29X7-198.16 đến nhà H tại địa chỉ số A, tập thể Đ, ngõ E D, Phường M, Quận C, Thành phố Hà Nội đưa cho H số tiền 100.000 đồng và nhận 01 (Một) gói giấy màu xanh bên trong chứa ma túy Heroin. Mua xong, P cất gói ma tuý vào bên trong túi áo khoác phía trước bên trái đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi tìm nơi sử dụng. Khi đến khu vực trước số nhà A D, Phường M, Quận C, Hà Nội thì P bị cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện, bắt giữ.
Tại kết luận giám định số 38/KL-KTHS ngày 02/01/2024 của Phòng K - Công an Thành phố H kết luận tang vật thu giữ của P: Chất bột màu trắng bên trong 01 (Một) gói giấy bạc màu xanh là ma túy loại Heroin, khối lượng 0,062 gam. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H đã tiến hành dẫn giải P đến số nhà A, tập thể Đ, ngõ E D, Phường M, Quận C, TP . xác định nơi P mua ma túy của H.
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 25/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Thành phố H tiến hành khám xét khẩn cấp đối với Lê Thị H tại nhà A22 tập thể Đ, ngõ E D, Phường M, Quận C, Thành phố Hà Nội, phát hiện và thu giữ: Trên nóc tủ lạnh ở góc nhà có: 01 (Một) túi ni lông màu trắng kích thước (05x07) cm bên trong có 03 (Ba) gói giấy màu xanh bên trong chứa chất bột màu trắng và 02 (Hai) gói giấy bạc màu trắng bên trong chất bột màu trắng, 04 (Bốn) gói giấy bạc màu trắng bên trong chất bột màu trắng, 02 (Hai) gói giấy màu xanh bên trong chứa chất bột màu trắng; Trên ghế sa lông có 02 (Hai) gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng; Trên mặt bàn có 04 (B) gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 (Một) điện thoại Narzo màu đen, 01 (Một) điện thoại Sam Sung màu đen và số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).
Tại kết luận giám định số 45/KL-KTHS ngày 02/01/2024 của Phòng K - Công an Thành phố H kết luận tang vật thu giữ tại nhà H:
- Chất bột màu trắng bên trong 03 (Ba) gói giấy màu xanh và 02 (Hai) gói giấy bạc màu trắng (để trong 01 túi ni lông) đều là ma túy Heroin, có tổng khối lượng 0,599 gam.
- Chất bột màu trắng bên trong 02 (Hai) gói giấy màu xanh và 10 (Mười) gói giấy bạc màu trắng đều là ma túy Heroin, tổng khối lượng 1,436 gam.
Tại Cơ quan điều tra, H khai nhận 02 (Hai) gói giấy bạc màu trắng thu giữ trên mặt bản trong nhà là ma túy của H lấy của Lê Thị Bích H2 (Sinh năm: 1968; HKTT: Số B tập thể Đ, ngô E phố D, Tổ I phường M - là chị gái H) mục đích để sử dụng. Số ma túy còn lại thu giữ tại nhà thì H không biết. Ngoài ra, H không thừa nhận việc bán ma túy cho P.
Quá trình điều tra, P khai nhận đã một số lần mua ma túy của H nhưng không nhớ cụ thể. Căn cứ vào kết quả điều tra xác định ngoài lời khai của P thì không có tài liệu, chứng cứ nào khác đủ cơ sở kết luận H nhiều lần thực hiện hành vi Mua bán trái phép chất ma túy.
Đối với Nguyễn Đình P có hành vi tàng trữ 0,062 gam ma túy Heroin mục đích để sử dụng. Ngày 03/02/2021, Công an Quận N, Thành phố Hà Nội xử phạt hành chính hình thức phạt tiền đối với P về hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy. P đã nộp phạt ngày 12/4/2021. Hiện đã hết thời hiệu. Vì vậy, lần vi phạm này của P không đủ căn cứ xử lý hình sự về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 21/5/2024, Công an quận C đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Đình P về hành vi nêu trên.
Quá trình điều tra, xác định: Xe mô tô Honda Wave RS, biển kiểm soát: 29X7-198.16 thuộc sở hữu của Nguyễn Đình P. Ngày 29/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận C đã trao trả xe mô tô trên cho P. Đối với chiếc điện thoại di động N màu đen lắp sim số 0344201270 thu giữ của Nguyễn Đình P, P khai nhận đây là điện thoại của P mua về sử dụng liên lạc với gia đình, bạn bè. Ngoài ra, P có sử dụng chiếc điện thoại trên liên lạc với H để mua ma túy. Đối với chiếc điện thoại S1 màu đen lắp sim số 0346460407 thu giữ của Lê Thị H, xác định H sử dụng vào việc liên lạc bán ma túy cho Nguyễn Đình P.
Đối với chiếc điện thoại di động Narzo màu đen lắp sim số 0355066129 và số tiền 300.000 đồng thu giữ của H, xác định không liên quan đến vụ án.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 278/2024/HS-ST ngày 19/12/2024 của Toà án nhân dân Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội đã quyết định: Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 251, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự, Xử phạt: Bị cáo Lê Thị H 48 (Bốn mươi tám) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 25/12/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí sơ thẩm, quyền kháng cáo.
Ngày 30/12/2024, bị cáo Lê Thị H có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà phúc thẩm:
- Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên lời khai trong quá trình giải quyết vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm: Bị cáo không thừa nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy như bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội đã xét xử đối với bị cáo nhưng thừa nhận bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với số lượng 02 gói ma túy loại Heroin trên bàn nước trong nhà bị cáo với mục đích để sử dụng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà, sau khi phân tích nội dung vụ án, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Toà án cấp sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo đã đề nghị:
+ Về hình thức: Đơn kháng cáo của các bị cáo đúng về chủ thể kháng cáo và trong thời hạn kháng cáo nên chấp nhận để xem xét.
+ Về nội dung: Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo vẫn giữ lời khai như ở cấp sơ thẩm. Tuy nhiên căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở để xác định Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử và tuyên bố bị cáo phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Bị cáo không thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên Toà án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo 48 tháng tù là có căn cứ, phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự để giữ nguyên bản án sơ thẩm. Cụ thể: Áp dụng Điều 38, khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Lê Thị H phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý, xử phạt bị cáo 48 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/12/2023. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về hình thức: Đơn kháng cáo của các bị cáo đúng về chủ thể kháng cáo và còn trong thời hạn kháng cáo nên chấp nhận để xem xét.
[2] Về nội dung:
Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên toà phúc thẩm và các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở xác định hành vi của bị cáo như sau:
Mặc dù trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm cũng như tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Lê Thị H không thừa nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình. Bị cáo khai không quen biết, không có liên hệ trao đổi gì để bán ma túy cho đối tượng Nguyễn Đình P, việc P khai đã mua 01 (Một) gói ma túy trong giấy màu xanh bên trong có chứa chất bột màu trắng loại Heroin với khối lượng 0,062 gam từ bị cáo là không đúng. Bị cáo chỉ thừa nhận có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đối với 02 (Hai) gói ma tuý gói trong giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng thu giữ ở vị trí trên mặt bàn nước trong nhà bị cáo là do bị cáo lấy ở nhà bà Lê Thị Bích H2 là chị gái của bị cáo còn số ma tuý khác thu giữ trong nhà của bị cáo, bị cáo đều khai không biết số ma tuý này. Hội đồng xét xử thấy rằng:
Thứ nhất, kết quả khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo Lê Thị H (Số nhà A, tập thể Đ, ngõ E D, Phường M, Quận C, Thành phố Hà Nội) đã thu giữ tang vật là ma tuý loại Heroin ở các vị trí nóc tủ lạnh, ghế ngồi, bàn uống nước. Trong đó tại vị trí bàn uống nước có 04 (Bốn) gói bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng là ma túy loại Heroin, bị cáo chỉ thừa nhận 02 (Hai) gói bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng là ma túy loại Heroin do bị cáo lấy ở nhà chị gái bị cáo là Lê Thị Bích H2, số ma tuý còn lại bị cáo khai không biết là của ai. Tuy nhiên, bị cáo khai bị cáo sống một mình tại đây, nhà ở của bị cáo không có dấu hiệu của người khác xâm nhập vào và tàng trữ ma túy tại đây, bị cáo cũng không có mâu thuẫn gì với bà Lê Thị Bích H2. Như vậy, đủ cơ sở xác định toàn bộ số ma túy H3 thu giữ tại nhà của bị cáo Lê Thị H là của bị cáo.
Thứ hai, đối tượng Nguyễn Đình P khai nhận mua ma túy do bị cáo Lê Thị H bán tại nhà riêng của bị cáo vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 25/12/2023. Trước khi đến nhà H mua ma tuý, Nguyễn Đình P đã sử dụng chiếc điện thoại di động N màu đen lắp sim số 0344201270 liên hệ với H để mua ma tuý. Kết quả kiểm tra điện thoại của P có cuộc gọi từ số điện thoại 0346.460.xxx của P đến số điện thoại 0344.201.xxx của bị cáo Lê Thị H vào hồi 12 giờ 27 phút 21 giây ngày 25/12/2023 trước khi P đến nhà bị cáo H để lấy ma túy. Đặc điểm gói ma tuý thu giữ của Nguyễn Đình P trùng hợp với đặc điểm những gói ma tuý đã thu giữ tại nhà bị cáo Lê Thị H theo các kết luận giám định của Phòng K - Công an Thành phố H. Bị cáo Lê Thị H và đối tượng Nguyễn Đình P đều có lời khai hai bên không có mâu thuẫn gì với nhau. Như vậy, lời khai của Nguyễn Đình P là khách quan, trùng khớp về thời gian, địa điểm và phù hợp với việc cơ quan chức năng thu giữ 0,062 gam Heroin trong túi áo của P khi kiểm tra hành chính P.
Thứ ba, bản thân bị cáo đã có 02 tiền án về tội mua bán trái phép chất ma tuý, những lần phạm tội trước đây bị cáo đều chối tội, không hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng, lời khai của bị cáo trong vụ án này về việc không biết ma tuý thu giữ tại nhà bị cáo là của ai, bị cáo không bán ma tuý cho Nguyễn Đình P thể hiện bị cáo tiếp tục có thái độ không thành khẩn khai báo, không ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
Thứ tư, những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được cơ quan điều tra thu thập là hoàn toàn khách quan, đúng với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Từ những nhận định nêu trên, đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 25/12/2023, tại khu vực trước số A D, Phường M, Quận C, Thành phố Hà Nội, Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma tuý - Công an Thành phố H phối hợp cùng Công an Phường M, Quận C, Hà Nội bắt quả tang Nguyễn Đình P có hành vi tàng trữ 0,062 gam ma túy Heroin mục đích để sử dụng. P khai mua ma túy trên của Lê Thị H. Tổ công tác dẫn giải P đến nhà H nơi P mua ma túy tại nhà A22, tập thể Đ, ngõ E D, phường M, quận C, Thành phố Hà Nội khám xét, thu giữ của H 2,035 gam Heroin. Tổng khối lượng ma túy Heroin Hương mua bán trái phép là 2,097 gam.
Do đó, Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 48 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Thị H, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo có 03 tiền án đã được xoá án tích, trong những vụ án trước đây bị cáo đều chối tội không hợp tác với các cơ quan tiến hành tố tụng thể hiện bị cáo có nhân thân rất xấu đã được pháp luật cải tạo, giáo dục nhiều lần nhưng không có tác dụng, không biết ăn năn, hối cải để trở thành người công dân có ích cho xã hội. Trong vụ án này, bị cáo tiếp tục chối tội, không hợp tác với các cơ quan tiến hành tố tụng, gây cản trở, khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Toà án cấp sơ thẩm căn cứ tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo để quyết định mức án 48 tháng tù là có cơ sở. Tại cấp phúc thẩm không có tình tiết gì mới để xem xét, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo nên giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do không chấp nhận kháng cáo của bị cáo nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thị H.
Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 278/2024/HSST ngày 19/12/2024 của Toà án nhân dân Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.
- Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 251 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015; Áp dụng Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Thị H 48 (Bốn mươi tám) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày 25/12/2023.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Chương |
Bản án số 183/2025/HS-PT ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 183/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 12 giờ 45 phút ngày 25/12/2023, tại khu vực trước số nhà A D, Phường M, Quận C, Thành phố Hà Nội. Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma tuý (PC04) - Công an Thành phố H phối hợp cùng Công an Phường M, Cầu G, Hà Nội đang làm nhiệm vụ phát hiện Nguyễn Đình P (sinh năm: 1981, Nơi thường trú: Số B ngõ B Hồ T, Phường M, Cầu G, Hà Nội) điều khiển xe mô tô Honda Wave RS, biển kiểm soát: 29X7-198.16 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành dừng xe để kiểm tra. Quá trình kiểm tra, cơ quan Công an phát hiện thu giữ bên trong túi áo khoác phía trước bên trái P đang mặc có 01 (Một) gói giấy màu xanh bên trong chứa chất bột màu trắng. Ngoài ra, cơ quan Công an tạm giữ của P 01 (Một) điện thoại di động N màu đen lắp sim số 0344201270, 01 (Một) xe mô tô Wave RS, biển kiểm soát: 29X7-198.16. Tại cơ quan Công an, Nguyễn Đình P khai nhận về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Khoảng 12 giờ 30 ngày 25/12/2023, P điện thoại cho Lê Thị H hỏi mua 100.000 đồng ma túy, H đồng ý. Sau đó, P điều khiển xe mô tô Honda Wave RS, biển kiểm soát: 29X7-198.16 đến nhà H tại địa chỉ số A, tập thể Đ, ngõ E D, Phường M, Quận C, Thành phố Hà Nội đưa cho H số tiền 100.000 đồng và nhận 01 (Một) gói giấy màu xanh bên trong chứa ma túy Heroin. Mua xong, P cất gói ma tuý vào bên trong túi áo khoác phía trước bên trái đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi tìm nơi sử dụng. Khi đến khu vực trước số nhà A D, Phường M, Quận C, Hà Nội thì P bị cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện, bắt giữ.
