|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - THANH HOÁ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 183/2025/HNGĐ-ST Ngày: 28/11/2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Sơn
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Thanh Bình
- Bà Nguyễn Thị Tiếp
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hải Vân - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 12, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Quyển - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 12 - Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 99/2025/TLST-HNGĐ, ngày 06 tháng 10 năm 2025 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
• Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1991
CCCD số: [...]; Cấp ngày: 23/02/2021; Nơi cấp: Cục C về TTXH.
Địa chỉ: Khu phố X, xã B, tỉnh Thanh Hóa
Vắng mặt. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
• Bị đơn: Anh Vũ Văn Q, sinh năm 1981
CCCD số: [...]; Cấp ngày: 10/5/2021; Nơi cấp: Cục C về TTXH.
Địa chỉ: Khu phố X, xã B, tỉnh Thanh Hóa
Vắng mặt. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 03/10/2025, bản tự khai và quá trình làm việc tại Tòa án nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị và anh Q tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có tổ chức cưới theo tập quán, đăng ký kết hôn ngày 15/02/2011 tại UBND xã T, huyện B, tỉnh Thanh Hóa (Nay là xã B, tỉnh Thanh Hóa). Hôn nhân hạnh phúc thời gian đầu, quá trình chung sống dần nảy sinh mâu thuẫn, vợ chồng không có tiếng nói chung, không còn yêu thương và tôn trọng nhau, do mâu thuẫn nên từ khoảng năm 2020 chị đã bỏ về nhà ngoại và ly thân với anh Q từ đó cho đến nay. Quá trình ly thân hai bên không hàn gắn, không liên hệ gì với nhau. Nay chị không còn tình cảm với anh Q, hôn nhân không còn có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị có nguyện vọng được ly hôn với anh Q.
- Về con chung: Chị và anh Q có 01 con chung là cháu Vũ Minh H1, sinh ngày: 07/11/2011. Hiện cháu đang ở với anh Q, ly hôn chị giao anh Q tiếp tục trực tiếp nuôi con chung, chị không cấp dưỡng tiền nuôi con chung, khi nào có chị sẽ tự cho con.
- Về tài sản và công nợ: Chị không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Bị đơn anh Vũ Văn Q tại bản tự khai và đơn xin giải quyết và xét xử vắng mặt trình bày: Anh và chị H ở gần nhà, tự do tìm hiểu, tổ chức cưới và đăng ký kết hôn ngày 15/02/2011 tại UBND xã T, huyện B, tỉnh Thanh Hóa (Nay là xã B, tỉnh Thanh Hóa). Khi con được 03 tuổi chị H đi làm một thời gian thì không về chung sống với anh, anh có hỏi lý do thì chị H nói do nợ nần nên không về, anh động viên chị H vì thương con nên về đoàn tụ nhưng chị H cương quyết không về và cũng không một lời hỏi thăm con, nay chị H yêu cầu ly hôn anh đồng ý. Ly hôn anh có nguyện vọng tiếp tục trực tiếp nuôi con chung là cháu Vũ Minh H1, sinh ngày: 07/11/2011, không yêu cầu chị H cấp dưỡng tiền nuôi con chung, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản. Do anh bận công việc, trong khi đó Tòa án ở xa, đi lại vất vả nên anh xin được giải quyết và xét xử vắng mặt.
Chị H, anh Q đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại phiên tòa chủ tọa phiên tòa công bố đơn xin xét xử vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn, biên bản xác minh và toàn bộ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ để Hội đồng xét xử xem xét. Căn cứ điều 227, điều 228 của BLTTDS, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H, anh Q.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Thanh Hóa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp các điều 56, 57, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án. Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Về hôn nhân: Đề nghị xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Vũ Văn Q.
Về con chung: Đề nghị giao 01 con chung là cháu Vũ Minh H1, sinh ngày: 07/11/2011 cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên, chị H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về án phí: Chị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H làm đơn khởi kiện xin ly hôn đối với anh Vũ Văn Q có nơi cư trú tại: Khu phố X, xã B, tỉnh Thanh Hóa. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Thanh Hóa quy định tại Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn, nuôi con được quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về thủ tục xét xử vắng mặt: Chị H, anh Q đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 điều 228 của BLTTDS.
- Về yêu cầu của nguyên đơn: Chị H và anh Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện B, tỉnh Thanh Hóa (Nay là xã B, tỉnh Thanh Hóa) nên công nhận là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Do mâu thuẫn nên từ năm 2020 chị H đã ly thân với anh Q, quá trình ly thân không ai còn quan tâm đến ai, hôn nhân không còn có hạnh phúc nên anh Q cũng đồng ý ly hôn với chị H. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nên yêu cầu ly hôn của chị H là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Vũ Minh H1, sinh ngày: 07/11/2011. Ly hôn chị H có nguyện vọng giao anh Q tiếp tục trực tiếp nuôi con chung, chị không cấp dưỡng tiền nuôi con. Anh Q đồng ý với ý kiến của chị H về vấn đề con chung. Cháu Minh H1 cũng có nguyện vọng ở với bố. Vì vậy giao cháu Minh H1 cho cho anh Q tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tế, giới tính, nguyện vọng của con chung, nguyện vọng của các bên đương sự và các quy định của pháp luật.
Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H và anh Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về tài sản chung: Các đương sự không có yêu cầu, nên không xem xét.
- Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các điều: 57, 81, 82, 83 và 84 luật Hôn nhân và Gia đình; Khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Toà án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về hôn nhân:
Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Vũ Văn Q.
Về con chung:
Giao 01 con chung là Vũ Minh H1, sinh ngày: 07/11/2011 cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Anh Q không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung, việc cấp dưỡng nuôi con chung sẽ do chị H tự nguyện thực hiện.
Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom và chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con, các đương sự có quyền khởi kiện về việc cấp dưỡng và thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.
Về tài sản chung:
Các đương sự không yêu cầu nên không giải quyết.
Về án phí:
Chị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị đã nộp theo biên lai thu số 0001025 ngày 06/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Chị H đã nộp đủ án phí.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trọng Sơn |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Hội thẩm nhân dân |
|
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà |
|
Bùi Thanh Bình |
Nguyễn Thị Tiếp |
Nguyễn Trọng Sơn |
Bản án số 183/2025/HNGĐ-ST ngày 28/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - THANH HOÁ về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 183/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN THỊ H-VŨ VĂN Q, LY HÔN, CON CHUNG-MÂU THUẪN GIA ĐÌNH
