|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 183/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 23/6/2025
V/v tranh chấp: “Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Duy Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Cường.
- Bà Lê Thị Ngọc Thúy.
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hùng Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông tham gia phiên tòa: Ông Võ Minh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 113/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2025, về việc tranh chấp: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 169/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 147/2025/QÐST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1985 (Có mặt);
Địa chỉ đăng ký thường trú: A ấp Đ, xã L, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.
Chỗ ở hiện nay: Ấp L, xã L, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Nguyễn Ngọc L: Ông Trần Quang V-Luật sư của Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh T (Có mặt);
- Bị đơn: Anh Phạm Hoàng S, sinh năm 1982 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp B, xã K, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn xin ly hôn ngày 03/4/2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc L trình bày:
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh S tiến đến hôn nhân từ trên cơ sở tự nguyện có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện G, tỉnh Tiền Giang vào năm 2009. Quá trình chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh S thường xuyên ăn chơi, cờ bạc và không chăm lo, phụ giúp kinh tế gia đình, gây ra nợ nần chị phải trả nhiều lần, chị đã khuyên can nhiều can nhiều lần nhưng anh S không thay đổi, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên đến tháng 7/2024 thì anh chị đã ly thân không còn sống chung cho đến nay. Nay tình cảm không còn, chị yêu cầu ly hôn với anh Phạm Hoàng S.
- - Về con chung: Có 02 con chung tên Phạm Nguyễn Gia B, sinh ngày 26/02/2011 và Phạm Nguyễn Gia Q, sinh ngày 23/12/2016. Hiện nay, các cháu đang sống với chị. Cháu Gia B bị bệnh bại não. Ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Gia B và cháu Gia Q, chị yêu cầu S cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi 02 con đủ 18 tuổi, lao động được. Thời gian thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
- - Về tài sản chung: Không có.
- - Về nợ chung: Không có.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Phạm Hoàng S vắng mặt không lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc L mặc dù đã được Tòa án triệu tập và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật.
* Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
- - Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng chị L, anh S mâu thuẫn từ khoảng năm 2011 cho đến nay, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do anh S thường xuyên ăn chơi, cờ bạc và không chăm lo, phụ giúp kinh tế gia đình, gây ra nợ nần chị phải trả nhiều lần, chị đã khuyên can nhiều can nhiều lần nhưng anh S không thay đổi, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên đến tháng 7/2024 thì anh chị đã ly thân không còn sống chung cho đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh S không đến Tòa án trình bày ý kiến cũng không đến tham dự hòa giải, tham dự phiên tòa chứng tỏ anh S đã không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều này chứng minh mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã trầm trọng, không thể hàn gắn được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L, cho chị L được ly hôn với anh S theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
- - Về con chung: Anh chị có 02 con chung tên tên Phạm Nguyễn Gia B, sinh ngày 26/02/2011 và Phạm Nguyễn Gia Q, sinh ngày 23/12/2016. Hiện nay, các con chung đang sống với chị L. Ly hôn, chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Gia B và cháu Gia Q, chị yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng/con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, lao động được, thời gian thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật. Nhận thấy, yêu cầu của chị L về việc yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Gia B, cháu Gia Q hoàn toàn phù hợp với nguyện vọng của cháu Gia Q cũng như điều kiện sống, sinh hoạt và học tập của các cháu hiện nay. Mặc khác, hiện nay cháu Gia B bị bệnh bãi não có Kết luận giám định sức khỏe tâm thần của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực thành phố H đồng thời phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L, cho chị L được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Gia B, Gia Huỳnh .
- - Về tài sản chung: Anh chị không có.
- - Về nợ chung: Anh chị không có.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông phát biểu ý kiến:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Ngọc L, cho chị L được ly hôn với anh Phạm Hoàng S.
Về con chung: Giao 02 con chung tên Phạm Nguyễn Gia B, sinh ngày 26/02/2011 và Phạm Nguyễn Gia Q, sinh ngày 23/12/2016 cho chị Nguyễn Ngọc L được tiếp tục nuôi dưỡng, anh Phạm Hoàng S có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Quan hệ tranh chấp giữa các bên đương sự là tranh chấp “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Tại phiên tòa, bị đơn anh Phạm Hoàng S vắng mặt không lý do dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh S tham gia phiên tòa lần thứ hai; Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông, nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc L không có ý kiến về việc vắng mặt bị đơn anh Phạm Hoàng S và đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh S kết hôn vào năm 2009, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và ngày 24/4/2009 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện G, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 48/HT, quyển số 01/2009 nên là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu ly hôn của chị L, căn cứ vào lời khai của chị L và kết quả xác minh tại địa phương, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hôn nhân của vợ chồng anh chị đã phát sinh mâu thuẫn năm 2011, nguyên nhân do anh S thường xuyên ăn chơi, cờ bạc và không chăm lo, phụ giúp kinh tế gia đình, gây ra nợ nần chị phải trả nhiều lần, chị đã khuyên can nhiều can nhiều lần nhưng anh S không thay đổi, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên đến tháng 7/2024 thì anh chị đã ly thân không còn sống chung cho đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh S không đến Tòa án, không có văn bản trình bày ý kiến hay phản đối yêu cầu ly hôn của chị L nên căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân những phát sinh mâu thuẫn trong hôn nhân mà chị L trình bày là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh. Từ những tình tiết nêu trên, có đủ căn cứ để xác định mâu thuẫn của vợ chồng anh chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử nhận thấy cần chấp nhận yêu cầu của chị L, cho chị L được ly hôn với anh S là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Anh chị có 02 con chung tên Phạm Nguyễn Gia B, sinh ngày 26/02/2011 và Phạm Nguyễn Gia Q, sinh ngày 23/12/2016. Hiện nay, 02 con chung đang sống với chị L. Anh S không đến tham gia phiên tòa cũng không có văn bản trình bày ý kiến về việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung chứng tỏ anh S không có ý kiến về việc chị L giao cho anh S được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Gia B, cháu Gia Q. Mặc khác, việc giao cháu Gia Q cho chị L được tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của cháu Gia Q cũng như điều kiện sống, sinh hoạt và học tập của các cháu. Cháu Gia B hiện nay bị bệnh bãi não có Kết luận giám định sức khỏe tâm thần của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực thành phố H và các cháu đã sống ổn định với chị L do đó để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu Gia B, cháu Gia Q nên cần giao chị L được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị L trình bày trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng/con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, lao động được, thời gian thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật. Xét thấy, anh S không trực tiếp nuôi dưỡng con chung thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình. Mặc khác, anh S không đến tham gia phiên tòa cũng không có văn bản trình bày ý kiến phản đối yêu cầu cấp dưỡng của chị L nên Hội đồng xét xử nhận thấy việc chị L yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi cháu Gia B, cháu Gia Q mỗi tháng mỗi cháu 1.000.000 đồng cho đến khi các cháu Gia B, cháu Gia Q đủ 18 tuổi, lao động được, thời gian thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật là phù hợp với quy định tại Điều 107, 110, 116, 117 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị L trình bày trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa không có; Anh S không đến tham gia phiên tòa cũng không có văn bản thể hiện ý kiến về việc này nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[2.4] Về án phí:
- - Chị L có yêu cầu ly hôn phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Anh S có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định tại điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[2.5] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên được chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 4 Điều 147 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 51, Điều 56, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Ngọc L, cho chị L được ly hôn với anh Phạm Hoàng S.
- Về con chung: Giao con chung tên Phạm Nguyễn Gia B, sinh ngày 26/02/2011 và Phạm Nguyễn Gia Q, sinh ngày 23/12/2016 cho chị Nguyễn Ngọc L được trực tiếp nuôi dưỡng.
Anh Phạm Hoàng S có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung tên Phạm Nguyễn Gia B, Phạm Nguyễn Gia Q mỗi tháng mỗi con chung là 1.000.000 (Một triệu) đồng cho đến khi cháu Gia B, cháu Gia Q đủ 18 tuổi, có khả năng lao động được. Thời gian thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Chị Nguyễn Ngọc L cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh Phạm Hoàng S trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
- Về án phí:
Chị Nguyễn Ngọc L phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0014132 ngày 15/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang nên xem như chị L đã nộp đủ án phí.
Anh Phạm Hoàng S phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Ngọc Duy Linh |
Bản án số 183/2025/HNGĐ-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG về ly hôn
- Số bản án: 183/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn
