Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 11 - NINH BÌNH

Bản án số: 183/2025/HNGĐ - ST

Ngày: 21 - 11 - 2025

V/v: Ly hôn, nuôi con khi ly hôn.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Việt Hùng;

Ông Lưu Văn Đê.

- Thư ký phiên toà: Ông Trương Tuấn Hải - Thư ký Tòa án nhân dân khu

vực 11 - Ninh Bình.

Ngày 21 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 115/2025/TLST - HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị Hông G, sinh năm 1996; địa chỉ: Tổ dân phố B T, xã H, tỉnh Ninh Bình.

Bị đơn: Anh Vũ Văn K, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ dân phố B T, xã H, tỉnh Ninh Bình.

Tại phiên tòa: Chị G và anh K vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 26 tháng 7 năm 2025, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị Hồng G1 trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Hồng G1 và anh Vũ Văn K có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện H, tỉnh Nam Định (nay là xã H, tỉnh Ninh Bình) ngày 10/09/2014 trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2019 thì không còn hạnh phúc, phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình lối sống không hòa hợp, bất đồng ý kiến, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, không có sự cảm thông chia sẻ với nhau. Do cuộc sống vợ chồng căng thẳng nên anh chị đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2019 cho đến nay, không quan tâm đến nhau. Nay chị G1 nhận thấy không còn tình cảm với anh K, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống hạnh phúc cùng nhau nên xin được ly hôn anh K.

Về con chung: Chị G1 và anh K có 02 con chung là Vũ Tiến Đ, sinh ngày 13/7/2015 và Vũ Thị Linh Đ1, sinh ngày 20/02/2018. Hiện cả hai con đang ở cùng anh K. Khi ly hôn chị G1 muốn trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Vũ Thị Linh Đ1, giao con chung Vũ Tiến Đ cho anh K nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Hiện nay chị G1 đang là làm phiên dịch tiếng Trung, thu nhập khoảng 40.000.000 đồng/tháng nên có đủ điều kiện để nuôi dưỡng cho con.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị G1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 28/10/2025, lời khai trong quá trình tố tụng, bị đơn anh Vũ Văn K trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Việc chị G1 và anh K có tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện H, tỉnh Nam Định (nay là xã H, tỉnh Ninh Bình) và diễn biến cuộc sống vợ chồng như chị G1 trình bày là đúng nhưng nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do chị G1 đi làm ăn ở xa khiến tình cảm vợ chồng phai nhạt dần. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay không còn quan tâm đến nhau. Nay chị G1 xin ly hôn, anh K không nhất trí ly hôn vì anh muốn giữ mái ấm gia đình để vợ chồng cùng nhau nuôi dạy con cái.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung như chị G1 trình bày là đúng. Nếu vợ chồng ly hôn, anh K có nguyện vọng được trực tiếp nuôi hai con chung, không yêu cầu chị G1 cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay anh đang làm nghề đi biển và làm việc cho công ty cổ phần K1, địa chỉ: Cụm C, phường S, tỉnh Bắc Ninh, thu nhập bình quân khoảng 20.000.000đồng/tháng nên có đủ điều kiện để nuôi dưỡng hai con.

Về tài sản chung, nợ chung về tài sản của vợ chồng: Anh K không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị Hồng G1, bị đơn anh Vũ Văn K vắng mặt nhưng đều có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Chị Trần Thị Hồng G1 và anh Vũ Văn K có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện H, tỉnh Nam Định (nay là xã H, tỉnh Ninh Bình) ngày 10/09/2019 trên cơ sở tự nguyện nên quan hệ hôn nhân giữa chị G1 và anh K là hợp pháp. Anh chị chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2019 thì không còn hạnh phúc, phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình lối sống không hòa hợp, bất đồng ý kiến, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, không có sự cảm thông chia sẻ với nhau và đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2019 cho đến nay, chấm dứt mọi quan hệ, tình cảm với nhau. Nay chị G1 xin ly hôn, anh K không đồng ý ly hôn.

Căn cứ vào lời khai của các đương sự, thấy thực tế hiện nay cuộc sống vợ chồng giữa chị G1 và anh K không hạnh phúc, phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng sống ly thân 2 năm nay, chấm dứt mọi sự quan tâm đến nhau. Quá trình giải quyết vụ án, anh K mong muốn đoàn tụ nhưng không có biện pháp khắc phục mâu thuẫn vợ chồng, Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng chị G1 và anh K vẫn không thể đoàn tụ. Như vậy, cuộc sống vợ chồng giữa chị G1 và anh K không thể tiếp tục do mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị G1, cho chị G1 được ly hôn anh K là phù hợp.

[3] Về việc nuôi con chung: Chị Trần Thị Hồng G1 và anh Vũ Văn K có hai con chung là cháu Vũ Tiến Đ, sinh ngày 13/7/2015 và Vũ Thị Linh Đ1, sinh ngày 20/02/2018. Hiện cả hai con đang ở cùng anh K. Khi ly hôn, chị G1 có nguyện vọng nuôi cháu Vũ Thị Linh Đ1 còn anh K có nguyện vọng nuôi cả 02 con chung và không yêu cầu người kia phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị G1 trình bày hiện chị đang làm phiên dịch viên tiếng Trung, thu nhập khoảng 40.000.000 đồng/tháng. Anh K trình bày hiện anh đang làm nghề đi biển và làm việc cho công ty cổ phần K1 ở tỉnh Bắc Ninh, thu nhập bình quân khoảng 20.000.000đồng/tháng. Hai con chung đều có nguyện vọng ở với anh K. Xét thấy, nguyện vọng của chị G1, anh K đều hợp pháp và anh chị đều không thuộc trường hợp bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên theo quy định của pháp luật. Theo quy định của pháp luật thì cha mẹ đều có quyền và nghĩa vụ như nhau trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung chưa thành niên. Do đó, để đảm bảo quyền lợi, công bằng cho các bên và đảm bảo điều kiện tốt nhất cho các con chung phát triển, Hội đồng xét xử sẽ giao cháu Vũ Thị Linh Đ1 cho chị G1 trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Vũ Tiến Đ cho anh Vũ Văn K trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân gia đình, chị G1 và anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau và có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Hiện nay hai con chung đang ở cùng anh K nên anh K phải có trách nhiệm giao cháu Linh Đ1 cho chị G1 nuôi dưỡng khi chị G1 yêu cầu.

[4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Do đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

[5] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn chị Trần Thị Hồng G1 phải nộp án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý về sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Trần Thị Hồng G1 và anh Vũ Văn K.

2. Về việc nuôi con chung chưa thành niên: Giao cháu Vũ Thị Linh Đ1, sinh ngày 20/02/2018 cho chị Trần Thị Hồng G1 trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên. Giao cháu Vũ Tiến Đ, sinh ngày 13/7/2015 cho anh Vũ Văn K trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên. Chị G1 và anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau và có mọi quyền và nghĩa vụ đối với các con chung theo quy định của pháp luật. Hiện cháu Linh Đ1 và cháu Đ đang ở cùng anh K nên anh K có nghĩa vụ giao cháu Linh Đ1 cho chị G1 nuôi dưỡng sau khi bản án có hiệu lực pháp luật và ngay sau khi chị G1 có yêu cầu.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Hồng G1 phải nộp án phí ly hôn 300.000 đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) chị G1 đã nộp theo Biên lai thu số 0001401 ngày 08/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình. Chị G1 đã nộp đủ án phí ly hôn.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND + VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND khu vực 11;
  • - THADS tỉnh Ninh Bình;
  • - UBND xã Hải Thịnh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn phòng.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Xuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 183/2025/HNGĐ - ST ngày 21/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NINH BÌNH về ly hôn, nuôi con khi ly hôn.

  • Số bản án: 183/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con khi ly hôn.
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con khi ly hôn giữa chị G và anh K
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger