Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 183/2025/HNGĐ - ST

Ngày: 20 - 3 - 2025

“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Mỹ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lý Khắc Chung;

Bà Trương Thị Thu Thuỷ.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Yến - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa:

Ông Lê Văn Thạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 646/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 113/2025/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trương Thị Kiều M, sinh năm 1996; Trú tại: Tổ A, ấp H, xã T, huyện P, tỉnh An Giang. (Có mặt).

- Bị đơn: Ông Trần Minh Đ, sinh năm 1983; Trú tại: Tổ A, khóm B, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 24/6/2024 và trong quá trình giải quyết nguyên đơn bà Trương Thị Kiều M trình bày:

Về hôn nhân: Bà M và ông Đ tìm hiểu, tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang vào năm 2015. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, dần về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn do vợ chồng không tôn trọng nhau, bất đồng quan điểm sống, thường hay cải vả nhau, đã ly thân từ tháng 5/2024 đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên bà M xin ly hôn với ông Đ.

- Về con chung: Bà M và ông Đ chung sống có 02 con chung tên Trần Minh V, sinh ngày 11/10/2014, Trần Minh D, sinh ngày 12/3/2018, hiện 02 con chung đang ở với bà M. Ly hôn bà M yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung. Về cấp dưỡng nuôi con bà M yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 3.000.000đ/tháng/02 con chung đến khi các con thành niên và có khả năng lao động được.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn ông Trần Minh Đ trình bày:

- Về hôn nhân: Thống nhất như bà M trình bày về thời gian chung sống, ly thân, nay tình cảm không còn đồng ý ly hôn với bà M.

- Về con chung: Thống nhất ông Đ và bà M chung sống có 02 con chung tên Trần Minh V, sinh ngày 11/10/2014, Trần Minh D, sinh ngày 12/3/2018, hiện 02 con chung đang được bà M nuôi dưỡng. Ly hôn, ông Đ yêu cầu được nuôi con chung tên Trần Minh D, sinh ngày 12/3/2018, giao cho bà M nuôi con chung tên Trần Minh V, sinh ngày 11/10/2014, ông Đ không yêu cầu bà M cấp dưỡng nuôi cháu D và ông Đ cũng không cấp dưỡng nuôi cháu V. Về điều kiện nuôi con: Ông Đ hiện là giáo viên có thu nhập ổn định 12.300.000đ/tháng, ông Đ không trợ cấp nuôi ai khác, cha mẹ ông cũng ở riêng nên ông có đủ điều kiện nuôi con.

Tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của bị đơn: Bảng lương của trường tiểu học B tháng 12/2024.

Tại phiên toà:

Bà M giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, xin ly hôn với ông Đ. Giữ nguyên yêu cầu nuôi 02 con chung, yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 3.000.000đ/tháng/02 con chung. Tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Ông Đ đồng ý ly hôn. Con chung, ông Đ đồng ý giao 02 con chung tên Trần Minh V, sinh ngày 11/10/2014, Trần Minh D, sinh ngày 12/3/2018, cho bà M nuôi dưỡng và có ý kiến đến khi nào cháu D học lớp 6 thì bà Đ phải giao cháu D lại cho ông Đ nuôi dưỡng. Ông Đ đồng ý cấp dưỡng nuôi 02 con chung 3.000.000đ/tháng/02 con chung. Tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biều ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa thấy rằng hôn nhân của bà M và ông Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà M yêu cầu ly hôn với ông Đ là có cơ sở chấp nhận.

- Về con chung: Bà M và ông Đ có 02 con chung tên Trần Minh V, sinh ngày 11/10/2014, Trần Minh D, sinh ngày 12/3/2018, hiện 02 con chung đang được bà M nuôi dưỡng từ khi vợ chồng sống ly thân (tháng 5/2024) đến nay, bà M yêu cầu nuôi 02 con chung. Tại phiên toà, ông Đ đồng ý giao 02 con chung cho bà M nuôi dưỡng và có ý kiến đến khi nào cháu D học lớp 6 thì bà M phải giao cháu D lại cho ông Đ nuôi dưỡng, bà M đồng ý với ý kiến của ông Đ. Ông Đ đồng ý cấp dưỡng nuôi 02 con chung 3.000.000đ/tháng/02 con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử giao 02 con chung cho bà M được trực tiếp nuôi dưỡng. Công nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung của ông Đ số tiền 3.000.000đ/tháng/02 con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà M và ông Đ thống nhất không có không yêu cầu giải quyết, nên đề nghị không xem xét.

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết: Ông Trần Minh Đ thường trú tại thị trấn C, huyện C. Bà M khởi kiện xin ly hôn, Tòa án nhân dân huyện Châu Phú thụ lý, giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung vụ án:

- Về hôn nhân: Bà M và ông Đ tự nguyên chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang nên được pháp luật công nhận là vợ chồng và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 8; khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Sau khi kết hôn ông bà có cuộc sống hạnh phúc được một thời gian, nhưng thời gian sau phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên thường hay cải nhau, cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, vợ chông không còn tình cảm, ông Đ cũng đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tiến hành hoà giải nhưng bà M và ông Đ kiên quyết ly hôn. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, nhưng giữa bà M và ông Đ đã không còn sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, đã sống ly thân từ tháng 5/2024 đến nay. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà M.

Về con chung: Bà M và ông Đ chung sống có 02 con chung tên Trần Minh V, sinh ngày 11/10/2014, Trần Minh D, sinh ngày 12/3/2018, hiện 02 con chung đang được bà M nuôi dưỡng. Bà M có yêu cầu tiếp tục nuôi 02 con chung, ông Đ cũng có yêu cầu nuôi cháu Trần Minh D, đồng ý giao cháu Trần Minh V cho bà M nuôi dưỡng.

Tại phiên toà, bà M yêu cầu nuôi 02 con chung và đến khi nào cháu D học lớp 6 sẽ giao lại cho ông Đ nuôi nếu ông Đ có yêu cầu. Ông Đ đồng ý giao 02 con chung tên Trần Minh V, sinh ngày 11/10/2014, Trần Minh D, sinh ngày 12/3/2018 cho bà M được nuôi dưỡng và khi nào cháu D học lớp 6 thì bà M phải giao cháu D lại cho ông Đ nuôi dưỡng.

Xét, từ khi ly thân đến nay, 02 con chung đều do bà M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, ăn học ổn định và phát triển tốt, bà M có việc làm và thu nhập ổn định, trong thời gian ly thân bà M luôn tạo điều kiện và đưa 02 cháu về thăm ông bà bên nội, luôn tạo điều kiện cho ông Đ thăm nom con là đã chấp hành đúng quy định tại Điều 81, 82 của Luật hôn nhân gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử cần giao cả 02 con chung tên Trần Minh V, sinh ngày 11/10/2014, Trần Minh D, sinh ngày 12/3/2018 cho bà Trương Thị Kiều M được trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Đối với ý kiến của ông Đ, bà M khi nào cháu D học lớp 6 thì giao cháu D lại cho ông Đ nuôi dưỡng. Xét, yêu cầu này không thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử, sau này đương sự không tự thoả thuận được thì có quyền tranh chấp trong vụ án khác.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà M yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi 02 con chung 3.000.000đ/tháng/02 con chung. Tại phiên toà, ông Đ đồng ý cấp dưỡng nuôi 02 con chung số tiền 3.000.000đ/tháng/02 con chung. Xét, đây là sự tự nguyện của đương sự không trái với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi 02 con chung của ông Đ số tiền 3.000.000đ/tháng/02 con chung là phù hợp với quy định tại Điều 82 của Luật hôn nhân gia đình.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà M và ông Đ thống nhất không có, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí:

Bà M phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ông Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Vì các lẻ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 244; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Điều 27 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Kiều M.

- Về hôn nhân: Bà Trương Thị Kiều M được ly hôn với ông Trần Minh Đ.

- Về con chung: Giao 02 con chung tên Trần Minh V, sinh ngày 11/10/2014, Trần Minh D, sinh ngày 12/3/2018 cho bà Trương Thị Kiều M được trực tiếp nuôi dưỡng.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Công nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi 02 con chung của ông Trần Minh Đ số tiền 3.000.000đ/tháng/02 con chung đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động được.

Bà M cùng với các thành viên trong gia đình không được cản trở ông Đ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha mẹ, hoặc cá nhân, tổ chức, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà M và ông Đ thống nhất không có không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí:

Bà Trương Thị Kiều M phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006175 ngày 28 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú.

Ông Trần Minh Đ phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con chung.

Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAT An Giang;
  • - THA huyện Châu Phú;
  • - VKSND huyện Châu Phú;
  • - UBND TT Cái Dầu;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Ngọc Mỹ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 183/2025/HNGĐ - ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 183/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn My - Điểm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger