|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 183/2025/DS-PT Ngày 14-4-2025 “V/v tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Trần Văn Kiến |
| Các Thẩm phán: | Ông Sỹ Danh Đạt |
| Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng | |
| Thư ký phiên tòa: | Ông Nguyễn Văn Tuấn, Thư ký Tòa án. |
| Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: | Bà Trần Thị Ngọc Quí, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. |
Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 493/2024/TLPT-DS ngày 31 tháng 10 năm 2024, về việc “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 78/2024/DS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 436/2025/QĐ-PT ngày 26 tháng 03 năm 2025, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn:
- Bà Cao Thị Ả, sinh năm 1964;
- Anh Trương Thanh T, sinh năm 1984;
- Anh Trương Văn T1, sinh năm 1985;
Cùng địa chỉ: Số C, ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của bà Cao Thị Ả, anh Trương Văn T1, anh Trương Thanh T: Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1987;
Địa chỉ: Số C, khóm B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (theo văn bản ủy quyền ngày 13/4/2022).
* Bị đơn: Bà Trương Thị P, sinh năm 1957;
Người đại diện theo ủy quyền của bà Trương Thị P: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1956;
Cùng địa chỉ: Số C, ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (theo văn bản ủy quyền ngày 29/8/2024).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1956;
Địa chỉ: Số C, ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
2
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn bà Trương Thị P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn B: Luật sư Phan Văn B1, thành viên Văn phòng L, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ.
Địa chỉ: Số A, đường P, tổ B, khóm M, phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
- Anh Nguyễn Nhứt T2, sinh năm 1978;
- Anh Nguyễn Cao C, sinh năm 1981;
- Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1983;
- Chị Trần Thị H1, sinh năm 1989;
Người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Nhứt T2, anh Nguyễn Cao C, anh Nguyễn Văn H và chị Trần Thị H1: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1956;
Cùng địa chỉ: Số C, ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (theo văn bản ủy quyền ngày 29/8/2024).
- Ủy ban nhân dân huyện L;
Địa chỉ: QL H khóm B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
- Chị Nguyễn Thị Ngọc G, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Số C, ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
* Người kháng cáo:
Bà Trương Thị P là bị đơn; Ông Nguyễn Văn B, anh Nguyễn Nhứt T2, anh Nguyễn Cao C, anh Nguyễn Văn H, chị Trần Thị H1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện ngày 02/3/2022 và trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa ông Nguyễn Tuấn A đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Vào năm 1990 bà Cao Thị Ả cùng chồng là ông Trương Thanh H2 (Đã chết) có nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn B và bà Trương Thị P một phần đất ngang 6m dài hết đất, giá 2,5 chỉ vàng 24k, lúc nhận chuyển nhượng không làm giấy tờ, cũng vào năm 1990 vợ chồng bà Ả tiếp tục nhận chuyển nhượng của bà Võ Thị C1 một phần đất tiếp giáp với đất nhận chuyển nhượng của bà P, ông B, sau khi nhận chuyển nhượng đất thì vợ chồng bà Ả, ông H2 xây dựng nhà ở từ năm 1990. Năm 1994 thì ông H2 đi đăng ký kê khai quyền sử dụng và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa 183c, tờ bản đồ số 1A (Trong đó có cả phần đất bà C1 và phần đất ông B, bà P chuyển nhượng). Năm 2011 thì ông H2 làm thủ tục cấp đổi theo bản đồ chính quy thành thửa đất số 107, tờ bản đồ số 49 diện tích 265,3m² (Trong đó đất ONT là 215m², đất trồng cây lâu năm là 50,3m². Thửa đất số 107 nói trên của bà Ả và ông H2 có ranh liền kề với thửa đất 120, tờ bản đồ số 49 của hộ bà Trương Thị P. Trong quá trình sử dụng đất hộ bà Ả với hộ bà P có xác định ranh là hàng rào lưới B40 khung sắt, kéo dài từ trụ đá phía trước giáp lộ đến ngang nhà trước của bà Ả, ông H2. Năm 2017 bà P có hỏi bà Ả mượn diện tích ngang 2m, dài 15m trên thửa đất 107 của bà Ả để bà P che tạm mái chái làm chỗ chứa gas, nhưng bà Ả không đồng ý. Sau đó bà P lợi dụng lúc hộ bà Ả không ai ở
3
nhà, tự ý xây tường bít cửa nhà sau và xây tường cặp với tường nhà chính của hộ bà Ả líp cửa sổ nhà chính của bà Ả và che mái chái lấn qua đất của bà Ả. Năm 2019 tiếp tục tự ý tháo dỡ hàng rào lưới B40 khung sắt của bà Ảnh lấn chiếm qua phần đất bà Ả diện tích theo như đo đạc thực tế của Tòa án là 16,5m² được thể hiện ở các mốc M1, M19, M20, M18 trở về M1.
Nay bà Ả, anh T, anh T2 yêu cầu hộ bà P gồm: Bà Trương Thị P, ông Nguyễn Văn B, anh Nguyễn Nhứt T2, anh Nguyễn Cao C, anh Nguyễn Văn H, chị Trần Thị H1 trả lại diện tích lấn chiếm theo đo đạc thực tế của Tòa án là 16,5m² được thể hiện ở các mốc M1, M19, M20, M18 về M1 thuộc một phần của thửa đất 107, tờ bản đồ số 49 và xác định ranh chung giữa thửa đất số 107, tờ bản đồ số 49 của hộ ông Trương Thanh H2 với thửa đất số 120, tờ bản đồ số 49 của hộ bà Trương Thị P là nối các mốc từ M18 đến M20 đến M11 thành các đường thẳng làm ranh chung.
2. Trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa bà Trương Thị P, ông Nguyễn Văn Ba C2 trình bày: Hiện hộ bà P, ông B đang đứng tên và sử dụng thửa đất số 120, tờ bản đồ số 49, diện tích được cấp trên giấy là 163,5m² loại đất ở nông thôn. Thửa đất số 120 của bà P có ranh liền kề với thửa đất số 107, tờ bản đồ số 49 của hộ ông Trương Thanh H2. Nguồn gốc thửa đất số 107 của ông H2 trước đây vợ chồng bà P, ông B mua lại của Võ Thị C1 vào năm 1991, diện tích ngang 06m, dài hết đất. Sau khi chia lại của bà C1 cùng năm 1991 ông B, bà P chia lại cho vợ chồng bà Ả, ông H2 hết phần đất trên để cất nhà ở với giá là 2,5 chỉ vàng 24k, nhưng đến nay bà Ả, ông H2 chưa trả cho vợ chồng ông B, bà P số vàng trên. Tuy nhiên ông B, bà P không khởi kiện yêu cầu bà Ả trả lại vàng trong vụ án này, ông B, bà P sẽ khởi kiện bà Ả bằng một vụ kiện khác khi ông B, bà P có điều kiện. Trong quá trình sử dụng đất hộ bà P và hộ bà Ả xác định mốc giới chung là từ mốc M1 đến mốc M19 đến mốc M8 theo đo đạc của Tòa án. Trước đây có xác định ranh chung là 02 trụ đá 02 đầu, nhưng trong quá trình sử dụng đất không biết lý do gì hiện nay đã mất không còn. Năm 2013 ông H2, bà Ả cất nhà sau, lấn chiếm qua phần đất của ông B, bà P diện tích theo như đo đạc của Tòa án là 8,6m² được thể hiện ở các mốc M19,M8, M9, M10, M11, M20 về M19 cũng vào năm 2013 vợ chồng bà Ả, ông H2 tự ý làm hàng rào lưới B40 từ lộ vào đến ngang mí nhà trước của ông B, bà Ả (Hàng rào dài khoảng 5 mét), vị trí hàng rào này đã lấn qua đất của bà P, ông B theo như đo đạc thực tế của Tòa án là 16,5m² được thể hiện ở các mốc M1, M19, M20, M18 trở về M1, khoảng một tháng sau ông B, bà P có yêu cầu bà Ả tháo dở hàng rào, nhưng hộ bà Ả không tháo dở, nên bà P, ông Ba T3 tháo dở, hộ bà Ả cho rằng hộ bà P tháo dở hàng rào của bà Ả để xây dựng mái chái như hiện nay là không đúng, vị trí mái chái của hộ bà P được xây dựng từ năm 1990, sau đó hộ bà P sửa chữa lại như hiện nay từ năm 2017.
Nay bà P không đồng trả lại diện tích theo như đo đạc của Tòa án là 16,5m² được thể hiện ở các mốc M1, M19, M20, M18 trở về M1 theo như yêu cầu của hộ bà Ả và yêu cầu xác định ranh chung là nối các mốc từ M1 đến M19 đến M8 để làm ranh chung.
* Tại Quyết định bản án sơ thẩm số 78/2024/DS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò đã tuyên xử:
4
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Cao Thị Ả, anh Trương Thanh T, anh Trương Văn T1 về việc tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất đối với hộ bà Trương Thị P.
- Buộc hộ bà Trương Thị P gồm: Bà Trương Thị P, ông Nguyễn Văn B, anh Nguyễn Nhứt T2, anh Nguyễn Cao C, anh Nguyễn Văn H, chị Trần Thị H1 tháo dở toàn bộ các vật kiến trúc có trên đất giao trả cho hộ bà Cao Thị Ả gồm: Bà Cao Thị Ả, anh Trương Thanh T, anh Trương Văn T1, chị Nguyễn Thị Ngọc G diện tích 16,5m² loại đất ở nông thôn được thể hiện ở các mốc M1, M19, M20, M18 trở về M1 thuộc một phần của thửa đất số 107, tờ bản đồ số 49, do hộ ông Trương Thanh H2 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất tọa lạc tại xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 107, tờ bản đồ số 49 do hộ ông Trương Thanh H2 đứng tên quyền sử dụng đất với thửa đất số 120, tờ bản đồ số 49 do hộ bà Trương Thị P đứng tên quyền sử dụng đất là:
Nối các các mốc từ M18 đến M20 đến M11 thành các đường thẳng làm ranh chung giữa thửa đất số số 107, tờ bản đồ số 49 do hộ ông Trương Thanh H2 đứng tên quyền sử dụng đất với thửa đất số 120, tờ bản đồ số 49 do hộ bà Trương Thị P đứng tên quyền sử dụng đất.
Ranh giới quyền sử dụng đất được xác định nên người có quyền sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới trong khuôn viên đất, các tài sản có trên ranh giới đã được xác định phải được di dời.
(Có biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 17/8/2023 và biên bản thẩm định tại chỗ ngày 15/01/2024 và sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp số 13/SĐ.ĐĐ/CNVP.ĐKĐĐ huyện Lấp Vò ngày 05/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L kèm theo).
-
Về án phí:
Hộ bà Trương Thị P gồm: Bà Trương Thị P, ông Nguyễn Văn B, anh Nguyễn Nhứt T2, anh Nguyễn Cao C, anh Nguyễn Văn H, chị Trần Thị H1 phải nộp 2.145.000 đồng (Hai triệu một trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Cao Thị Ả được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai số 0008841, ngày 17/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò.
-
Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:
Hộ bà Trương Thị P gồm: Bà Trương Thị P, ông Nguyễn Văn B, anh Nguyễn Nhứt T2, anh Nguyễn Cao C, anh Nguyễn Văn H, chị Trần Thị H1 có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà Cao Thị Ả 6.019.440 đồng tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 19 tháng 8 năm 2024, bà Trương Thị P, ông Nguyễn Văn B, anh Nguyễn Nhứt T2, anh Nguyễn Cao C, anh Nguyễn Văn H
5
và chị Trần Thị H1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 78/2024/DS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò.
Bà Trương Thị P, ông Nguyễn Văn B, anh Nguyễn Nhứt T2, anh Nguyễn Cao C, anh Nguyễn Văn H và chị Trần Thị H1 kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm 78/2024/DS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tuyên xử theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Cao Thị Ả, anh Trương Thanh T, anh Trương Văn T1.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Nguyễn Văn B là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, đồng thời là người đại diện ủy quyền của bà P, anh T1, anh C, anh H và chị H1 trình bày:
Nguồn gốc đất tranh chấp là của ông Nguyễn Văn B nhận chuyển nhượng của ông Võ Văn B2 vào ngày 10/02/1990, với diện tích ngang 10,5m, dài 25m và một phần diện tích đất của bà Võ Thị C1, với diện tích ngang 6m, dài 25m phần đất này tiếp giáp với phần đất của ông B2 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn B. Việc chuyển nhượng trên được lập bằng giấy viết tay, sau đó ông Nguyễn Văn B đã sử dụng một phần xây dựng nhà và một phần để trống.
Năm 1991, ông Trương Thanh H2 với bà Cao Thị Ả có hỏi ông B để được cất nhà trên phần đất mà ông B nhận chuyển nhượng của bà C1 khi nào cần ở luôn thì ông H2 và bà Ả sẽ trả giá trị đất cho ông B nên ông B cho ông H2, bà Ả xây nhà ở từ năm 1991 trên phần đất mà ông B nhận chuyển nhượng của bà C1 diện tích ngang 6m, dài 25m (nhà chính ngang 6m, dài 12m và nhà phụ liền kề phía sau ngang 6m, dài 6). Đến năm 2013, ông H2, bà Ả xây dựng lại nhà phụ phía sau mở rộng thêm và xây dựng hàng rào lưới B40 là tự ý lấn qua phần đất của gia đình bà P nên bà P đã dở bỏ hàng rào lưới B40 này do lấn qua đất bà. Phần đất tranh chấp là phần đất trống trước đó bà để vật dụng máy suốt lúa, đến năm 2017 thì gia đình bà P xây dựng một phần nhà, ngang 2,6m, dài 13,38m tiếp giáp liền kề với nhà của ông H2, bà Ả.
Do đó, bà Trương Thị P, ông Nguyễn Văn B, anh Nguyễn Nhứt T2, anh Nguyễn Cao C, anh Nguyễn Văn H và chị Trần Thị H1 kháng cáo yêu cầu xem xét không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ả, anh T, anh T2.
Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của bà Trương Thị P, ông Nguyễn Văn B, anh Nguyễn Nhứt T2, anh Nguyễn Cao C, anh Nguyễn Văn H và chị Trần Thị H1, tuyên giữ nguyên án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
6
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, được kiểm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Trương Thị P, ông Nguyễn Văn B, anh Nguyễn Nhứt T2, anh Nguyễn Cao C, anh Nguyễn Văn H và chị Trần Thị H1 nộp trong hạn luật định nên kháng cáo được Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm đại diện Ủy ban nhân dân huyện L (có đơn xin vắng). Chị Nguyễn Thị Ngọc G (có đơn xin xét xử vắng, BL 182). Xét thấy việc vắng mặt của đương sự nêu trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ vào khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đương sự trên.
[2] Nguồn gốc đất tranh chấp: Nguyên đơn bà Cao Thị Ả xác định vào năm 1990, bà Ả và ông Trương Thanh H2 (là chống bà Ả) có nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn B và bà Trương Thị P phần đất ngang 6m dài hết đất giá 2,5 chỉ vàng 24k, cùng năm 1990 vợ chồng bà Ả và ông H2 tiếp tục nhận chuyển nhượng của bà Võ Thị C1 phần đất liền kề với phần đất bà Ảnh, ông H2 nhận chuyển nhượng của ông B, bà P. Sau khi nhận chuyển nhượng đất của bà P, ông B và bà C1 thì vợ chồng bà Ả xây dựng nhà ở trong năm 1990 đến năm 1994 thì ông Trương Thanh H2 đi đăng ký kê khai quyền sử dụng và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa 183c, tờ bản đồ số 1A (theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 183c, tờ bản đồ số 1A, diện tích 350m², mục đích sử dụng đất thổ, đất tọa lạc tại xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp được UBND huyện T cấp ngày 29/12/1994 cho Trương Thanh H2), diện tích được cấp có phần đất nhận chuyển nhượng của bà C1 và nhận chuyển nhượng của ông B, bà P. Năm 2011 ông H2 làm thủ tục cấp đổi theo bản đồ chính quy thành thửa đất số 107, tờ bản đồ số 49 diện tích 265,3m² (theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 107, tờ bản đồ số 49, diện tích 265,3m², mục đích sử dụng đất ở nông thôn 215m² + đất trồng cây lâu năm 50,3m², đất tọa lạc tại ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp được UBND huyện T cấp ngày 10/5/2011 cho hộ ông Trương Thanh H2).
Bà Trương Thị P cho rằng nguồn gốc đất tranh chấp là của vợ chồng bà (ông B với bà P) nhận chuyển nhượng của ông Võ Văn B2 và bà bà Võ Thị C1, cùng năm 1991 bà P, ông B có chuyển nhượng lại một phần đất cho ông H2, bà Ả để cất nhà ở năm 1991 và phần còn lại bà P đã được UBND Lấp Vò cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 117, tờ bản đồ la vào ngày 27/10/2003 và cấp đổi thành thửa 120, tờ bản đồ số 49, diện tích 163,5m², mục đích sử dụng đất ở tại nông thôn (theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 120, tờ bản đồ số 49, diện tích 163,5m², mục đích sử dụng đất ở nông thôn, đất tọa lạc tại ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp được UBND huyện T cấp ngày 10/5/2011 cho hộ bà Trương Thị P). Như vậy, thửa đất số 107 của bà Ả và ông H2 có ranh liền kề với thửa đất 120, tờ bản đồ số 49 của hộ bà Trương Thị P. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định diện tích ranh đang tranh chấp giữa hộ bà Cao Thị Ả với hộ bà Trương Thị P theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 17/8/2023, bổ sung ngày 15/01/2024 và sơ đồ đo đạc thực tế ngày 05/4/2024 là 16,5m², trong phạm
7
vi các mốc M1, M19, M20, M18 trở về M1 (theo sơ đồ đo đạc thực tế ngày 05/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L) là phù hợp.
[3] Về quá trình sử dụng đất: Các bên nguyên bị đơn xác định trước đây ranh giới giữa hai thửa đất số 107 và thửa 120, cùng bản đồ số 49 là 02 trụ đá. Tuy nhiên, qua đo đạc thực tế ngày 17/8/2023, đo đạc bổ sung ngày 15/01/2024 thì trên phần đất tranh chấp hiện trạng không còn 02 trụ đá xác định ranh của hai bên, nhưng hiện trạng thực tế thể hiện có một phần mái che và 02 bức tường của bà P được xây dựng năm 2017 trên phần đất tranh chấp (diện tích 16,5m²), trong khi phía bà Ảnh có vướng sênô nhà được xây dựng năm 1990 trên phần đất tranh chấp (diện tích 16,5m²). Ngoài ra, hộ bà Ả xác định phần ranh chung giữa hai bên được xác định là hàng rào lưới B40 khung sắt, kéo dài từ trụ đá phía trước giáp lộ đến ngang mí nhà trước của bà Ả. Năm 2017 hộ bà P tự ý xây tường bít cửa nhà sau và xây tường bít cửa sổ nhà chính của bà Ả và che mái chái lấn qua đất của bà Ả. Năm 2019 hộ bà P tiếp tục tháo dỡ hàng rào lưới B40 khung sắt của hộ bà Ảnh lấn chiếm đất bà Ả theo diện tích đo đạc thực tế của Tòa án là 16,5m² để xây dựng một mái che như hiện trạng tranh chấp.
[4] Hội đồng xét xử xét thấy, năm 1990 bà Ả, ông Trương Thanh H2 (ông H5 chết năm 2015) có nhận chuyển nhượng đất của ông B, bà P và có nhận chuyển nhượng đất của bà Võ Thị C1 để xây dựng nhà ở từ năm 1990 và đến năm 1994 thì ông H2 kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu (thửa 183c) đến năm 2011 thì cấp đổi theo bản đồ chính quy thành thửa 107, tờ bản đồ số 49 diện tích 265,3m² thì thửa 107 của hộ ông H2 có ranh liền kề với thửa 120, tờ bản đồ số 49 của hộ bà Trương Thị P và khi đó có hàng rào lưới B40 khung sắt, nhưng năm 2017 hộ bà P xây tường và che mái chái lấn qua đất của bà Ả. Năm 2019 hộ bà P tiếp tục tháo dỡ hàng rào lưới B40 khung sắt của hộ bà Ảnh để xây dựng một mái chái trên phần đất tranh chấp.
Ngoài ra, theo Sơ đồ kỹ thuật thửa đất số 107, tờ bản đồ số 49 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ năm 2010, trong hồ sơ cấp đổi giấy chứng quyền sử dụng đất thửa đất số số 107 của hộ ông H2 với thửa đất số 120 của hộ bà P với sơ đồ đo đạc hiện trạng thực tế thì mặt hướng giáp Quốc lộ E, đoạn tranh chấp (vị trí M1 đến M18) là 1,22m (chiều ngang phần đất tranh chấp). Xét theo hồ sơ kỹ thuật thửa số 107, năm 2010 được thể hiện từ mốc 1 đến mốc 7 là 14,83m so với đo đạc ngày 05/4/2024 được thể hiện từ mốc M2 đến mốc M1 là 13,62m (thiếu 1,21m), trong khi theo hồ sơ kỹ thuật thuật thửa số 120, năm 2010 được thể hiện từ mốc 1 đến mốc 7 là 8,64m so với đo đạc ngày 05/4/2024 tính luôn phần đang tranh chấp (1,22) được thể hiện diện tích 9,76m (trong đó có 1,22 + 0,46m) là dư 1,12m. Đồng thời, theo hồ sơ kỹ thuật thửa số 107, năm 2010 được thể hiện từ mốc 7 và mốc 6, vị trí 02 mốc này nằm ngoài vị trí căn nhà của hộ ông H2 (bà Ả). Tuy nhiên, mái chái nhà của hộ bà P (hiện trạng) đã cất lấn chiếm đến tường nhà chính của hộ ông H2 (bà Ả).
Mặt khác, những người làm chứng như bà Phạm Thị Bích H3, ông Nguyễn Sơn H4 và anh Phạm Tấn T4 đều xác định phần đất đang tranh chấp diện tích 16,5m² gia đình bà P đang sử dụng xây dựng mái chái, trước đây là do hộ ông H2, bà Ả sử dụng làm lối đi từ nhà sau của ông H2 ra lộ (QL 54) và trên phần đất này trước đây vào khoảng năm 1990 hộ ông H2 cũng có xây dựng một hàng
8
rào ranh bằng lưới B40 khung sắt, nhưng năm 2017 thì hộ bà P tự ý xây dựng mái chái lấn qua phần đất của hộ ông H2 và năm 2019 tiếp tục tháo dỡ hàng rào lưới B40 khung sắt của hộ ông H2, bà Ả. Do đó, bản án sơ thẩm xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa số 107 của ông H2 (bà Ả) với thửa số 120 là nối các mốc M18, M20 đến M11 (theo sơ đồ đo ngày 05/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L) là có cơ sở chấp nhận.
[5] Theo Công văn số 66/UBND-NC ngày 21/3/2025 của UBND huyện L và Công văn số 448/CNVPĐKĐĐHLV-ĐKCG ngày 11/02/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L đều xác định “Phần đất tranh chấp với diện tích 16,5m², thể hiện trong phạm vi các mốc M18, M20, M19 trở về M1 (theo sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp số 13/SĐ.ĐĐ/CNVPĐKĐĐ ngày 05/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L)...” thuộc thửa 107, tờ bản đồ số 49, đất tọa lạc tại xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp cấp cho hộ ông Trương Thanh H5 vào ngày 10/5/2011 và khi thực hiện cấp đổi có tiến hành đo đạc thực tế theo quy định của pháp luật.
[6] Xét kháng cáo của bà Trương Thị P, ông Nguyễn Văn B, anh Nguyễn Nhứt T2, anh Nguyễn Cao C, anh Nguyễn Văn H và chị Trần Thị H1, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Tại phiên tòa các nguyên, bị đơn đều thừa nhận phần diện tích đất đang tranh chấp giữa thửa số 107 của ông H2 (bà Ả) với thửa số 120 của hộ bà P là 16,5m², trong phạm vi các mốc M1, M19, M20, M18 trở về M1 (theo sơ đồ đo đạc thực tế ngày 05/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L).
+ Đối với phần đất diện tích 8,6m² được thể hiện trong phạm vi các mốc M19, M8, M9, M10, M11, M20 trở về M19 (theo sơ đồ đo đạc thực tế ngày 05/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L) mà bà P yêu cầu buộc bà Cao Thị Ả, anh Trương Thanh T, anh Nguyễn Văn T5, chị Nguyễn Thị Ngọc G di dời vật kiến trúc xây lấn qua phần diện tích đất của bà P, ông B, anh T5, anh C, anh H, chị H1 để trả đất lại cho bà P, ông B, anh T5, anh C, anh H, chị H1. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm đã có văn bản số 88/TA ngày 29/5/2024 gửi cho bà P nếu có tranh chấp thì phải có đơn gửi Tòa án và nộp tạm ứng án phí nhưng bà P không gửi đơn yêu cầu cho Tòa án cấp sơ thẩm nên không xem xét là có căn cứ chấp nhận.
Đối với ranh đất tranh chấp diện tích 16,5m², trong phạm vi các mốc M1, M19, M20, M18 trở về M1 bà P xác định là phần đất thuộc thửa 120, nhưng phía gia đình bà Ả tự ý lấn chiếm xây dựng hàng rào lưới B40 khung sắt nhưng không có chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ nên chưa đủ căn cứ xác định diện tích 16,5m², trong phạm vi các mốc M1, M19, M20, M18 trở về M1 thuộc thửa 120 của hộ bà P.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định phần đất tranh chấp diện tích 16,5m², trong phạm vi các mốc M1, M19, M20, M18 trở về M1 (theo sơ đồ đo đạc thực tế ngày 05/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L) là thuộc thửa 107, tờ bản đồ số 49, đất tọa lạc tại ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp được UBND huyện L cấp ngày 10/5/2011 cho hộ ông Trương Thanh H2 là có sở chấp nhận.
9
Tại phiên tòa phúc thẩm bà Trương Thị P, ông Nguyễn Văn B, anh Nguyễn Nhứt T2, anh Nguyễn Cao C, anh Nguyễn Văn H và chị Trần Thị H1 không cung cấp chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ nên không có căn cứ để chấp nhận.
[7] Từ những phân tích như trên, Hội đồng xét xử xét thấy không chấp nhận kháng cáo của bà Trương Thị P, ông Nguyễn Văn B, anh Nguyễn Nhứt T2, anh Nguyễn Cao C, anh Nguyễn Văn H và chị Trần Thị H1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[8]. Xét đề nghị luật sư người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Trương Thị P, ông Nguyễn Văn B là không có căn cứ chấp nhận.
[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là phù hợp nên chấp nhận.
Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
[10] Về án phí phúc thẩm:
Bà Trương Thị P, ông Nguyễn Văn B, anh Nguyễn Nhứt T2, anh Nguyễn Cao C, anh Nguyễn Văn H và chị Trần Thị H1 phải chịu án phí phúc thẩm theo khoản 1 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bà Trương Thị P, ông Nguyễn Văn B thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn tiền án phí phúc thẩm.
Anh Nguyễn Nhứt T2, anh Nguyễn Cao C, anh Nguyễn Văn H và chị Trần Thị H1 phải chịu án phí phúc thẩm theo khoản 1 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 166, Điều 170, Điều 179, Điều 203 của Luật đất đai; Điều 175 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của bà Trương Thị P, ông Nguyễn Văn B, anh Nguyễn Nhứt T2, anh Nguyễn Cao C, anh Nguyễn Văn H và chị Trần Thị H1.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 78/2024/DS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Cao Thị Ả, anh Trương Thanh T, anh Trương Văn T1 về việc tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất đối với hộ bà Trương Thị P.
10
- Buộc hộ bà Trương Thị P gồm: Bà Trương Thị P, ông Nguyễn Văn B, anh Nguyễn Nhứt T2, anh Nguyễn Cao C, anh Nguyễn Văn H, chị Trần Thị H1 tháo dở toàn bộ các vật kiến trúc có trên đất giao trả cho hộ bà Cao Thị Ả gồm: Bà Cao Thị Ả, anh Trương Thanh T, anh Trương Văn T1, chị Nguyễn Thị Ngọc G diện tích 16,5m² loại đất ở nông thôn được thể hiện ở các mốc M1, M19, M20, M18 trở về M1 thuộc một phần của thửa đất số 107, tờ bản đồ số 49, do hộ ông Trương Thanh H2 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất tọa lạc tại xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 107, tờ bản đồ số 49 do hộ ông Trương Thanh H2 đứng tên quyền sử dụng đất với thửa đất số 120, tờ bản đồ số 49 do hộ bà Trương Thị P đứng tên quyền sử dụng đất là:
Nối các các mốc từ M18 đến M20 đến M11 thành các đường thẳng làm ranh chung giữa thửa đất số số 107, tờ bản đồ số 49 do hộ ông Trương Thanh H2 đứng tên quyền sử dụng đất với thửa đất số 120, tờ bản đồ số 49 do hộ bà Trương Thị P đứng tên quyền sử dụng đất.
Ranh giới quyền sử dụng đất được xác định nên người có quyền sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới trong khuôn viên đất, các tài sản có trên ranh giới đã được xác định phải được di dời.
(Có biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 17/8/2023 và biên bản thẩm định tại chỗ ngày 15/01/2024 và sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp số 13/SĐ.ĐĐ/CNVP.ĐKĐĐ huyện Lấp Vò ngày 05/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L kèm theo).
-
Về án phí:
Hộ bà Trương Thị P gồm: Bà Trương Thị P, ông Nguyễn Văn B, anh Nguyễn Nhứt T2, anh Nguyễn Cao C, anh Nguyễn Văn H, chị Trần Thị H1 phải nộp 1.716.000 đồng (Một triệu bảy trăm mười sáu nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Cao Thị Ả được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai số 0008841, ngày 17/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò.
-
Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:
Hộ bà Trương Thị P gồm: Bà Trương Thị P, ông Nguyễn Văn B, anh Nguyễn Nhứt T2, anh Nguyễn Cao C, anh Nguyễn Văn H, chị Trần Thị H1 có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà Cao Thị Ả 6.019.440 đồng tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
-
Án phí dân sự phúc thẩm:
- + Bà Trương Thị P, ông Nguyễn Văn B không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm do là người cao tuổi.
- + Chị Trần Thị H1 phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0007732 ngày 20/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò.
11
- + Anh Nguyễn Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0007733 ngày 20/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò.
- + Anh Nguyễn Cao C phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0007734 ngày 20/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò.
- + Anh Nguyễn Nhứt T2 phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0007735 ngày 20/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Kiến |
12
Bản án số 183/2025/DS-PT ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất
- Số bản án: 183/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Cao Thị A khởi kiện bà Ph yêu cầu bà di dời tài sản và vật kiến trúc đã lại đất lấn chiếm
