|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 183/2025/DS-PT Ngày: 05-03 - 2025 V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất.” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Thu |
| Các Thẩm phán: | Bà Võ Thị Kim Thương |
| Bà Lê Thị Ngọc Hương. |
Thư ký phiên tòa:Bà Trần Võ Quỳnh Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:Bà Hoàng Thị Hoài Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 và ngày 05 tháng 03 năm 2025 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, số A N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 761/2024/TLPT-DS ngày 10 tháng 10 năm 2024, về việc:“Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 578/2024/DS-ST ngày 14-8-2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 421/2025/QĐ-PT ngày 11/02/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa:
-
Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị T, sinh năm 1956.
Địa chỉ: E ấp E, xã Đ, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ủy quyền ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1962 – Đại diện (Có mặt).
Địa chỉ: 1 T, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
-
Bị đơn: Ông Phạm Minh P, sinh năm 1964.
Địa chỉ: 5 N, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người kháng cáo: Bà Đoàn Thị T - Nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án sơ thẩm, sự việc được tóm tắt như sau:
Nguyên đơn bà Đoàn Thị T trình bày: Phần đất diện tích 1.000 m2, thuộc thửa đất số:650, tờ bản đồ số 7, tại địa chỉ xã Đ, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sử dụng của bà theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất, số BC: 317131, số vào sổ cấp GCN CH: 00379 ngày 02/8/2010 của Ủy ban nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Bị đơn ông Phạm Minh P là người có quyền sử dụng đất, phía trong phần đất của bà đã tự ý mở đường đi vào phần đất của bà T, có diện tích chiều ngang là 5,00m² và chiều dài là 62,6m², tại địa chỉ Xã Đ, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nay, bà T yêu cầu ông P trả lại phần đất có diện tích 62,6m², thuộc một phần thửa 650, tờ bản đồ thứ 7, tại xã Đ, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Công ty TNHH Đ1 lập ngày 13/7/2020.
Bị đơn ông Phạm Minh P trình bày: Ông không có lấn chiếm phần đất của bà T để mở đường đi. Do vậy, ông không đồng ý yêu cầu của bà T.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Ông Đoàn Văn L đại diện bà T vẫn giữ yêu cầu khởi kiện.
Ông P có đơn xein xét xử vắng mặt.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 578/2024/DS- ST ngày 14-8-2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, tuyên xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị T, về việc: Buộc ông Phạm Minh P trả lại cho bà Đoàn Thị T phần đất đã lấn chiếm như sau: Phần đất diện tích 62,6m², thuộc một phần thửa 650, tờ bản đồ thứ 7, tại xã Đ, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Công ty TNHH Đ1 lập ngày 13/7/2020.
-
Về chi phí tố tụng:
Buộc Bà Đoàn Thị T chịu chi phí đo vẽ là 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng). Bà T đã nộp tạm ứng chi phí đo vẽ số tiền 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng) theo Phiếu thu ngày 27/5/2020 của Công ty TNHH Đ1. Bà Đoàn Thị T đã nộp đủ.
Buộc Bà Đoàn Thị T chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Bà T đã nộp tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).
Ngoài ra, Bản án dân sự sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự và quy định về Thi hành án.
Ngày 27/8/2024, bà Đoàn Thị T kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Nguyên đơn bà Đoàn Thị T (có ông Nguyễn Văn N đại diện theo ủy quyền) vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm không đưa ông
Đoàn Văn L vào tham gia tố tụng và không thu thập chứng cứ đầy đủ là vi phạm thủ tục tố tụng, vì vậy, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm, hủy án sơ thẩm và chuyển hồ sơ về cho Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Bị đơn ông Phạm Minh P không đồng ý kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu:
Về tố tụng:Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán thực hiện đúng theo quy định của pháp luật và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Các đương sự chấp hành đúng theo quy định của phát luật.
Về nội dung:Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà T, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Trong quá trình thu thập chứng cứ ở cấp sơ thẩm và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Đoàn Thị T trình bày phần đất diện tích 1.000 m², thuộc thửa đất số:650, tờ bản đồ số 7, tại địa chỉ xã Đ, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sử dụng của bà theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất, số BC: 317131, số vào sổ cấp GCN CH: 00379 ngày 02/8/2010 của Ủy ban nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Bị đơn ông Phạm Minh P là người có quyền sử dụng đất, phía trong phần đất của bà đã tự ý mở đường đi vào phần đất của bà, có chiều ngang là 5,00m² và chiều dài là 62,6 m², tại địa chỉ: Xã Đ, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Do vậy, bà yêu cầu ông P trả lại diện tích đất nêu trên cho bà.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn ông Phạm Minh P khai, vợ chồng ông là người có quyền sử dụng phần đất, có diện tích 1.344,4 m², Thửa đất số 603, Tờ bản đồ số 07, tại địa chỉ Xã Đ, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, phần diện tích đất này nằm phía trong phần đất của bà T. Năm 2013, giữa ông và ông Đoàn Văn L (là em của bà Đoàn Thị T đại diện cho bà T) thỏa thuận việc mở đường đi chung, theo đó bà T đồng ý cắt phần đất thuộc quyền sử dụng của bà, diện tích 62,6m² (chiều ngang là 5,00m² và chiều dài là 12.53m²), tại địa chỉ: Xã Đ, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh và phía ông phụ thêm tiền đất với bà T là 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng). Ngày 24/11/2013, ông có đưa cho ông L 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng). Hai bên có lập Giấy thỏa thuận cùng ngày. Sau khi lập Giấy thỏa thuận thì ông là người bỏ tiền để làm đường xi năng như hiện trạng hiện nay, để làm lối đi chung cho gia đình ông và 20 hộ dân
khác. Ông thừa nhận phần lối đi chung đang tranh chấp, có chiều ngang là 5,00m² và chiều dài là 12.53m², tại địa chỉ: Xã Đ, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, trước đây thuộc quyền sử dụng của bà T, tuy nhiên, năm 2013 giữa ông và ông L đại diện bà T đã thỏa thuận phần đất này làm lối đi chung của gia đình ông và các hộ dân khác nên ông không đồng ý với yêu cầu của bà T.
[3] Theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Công ty TNHH Đ1 lập ngày 13/7/2020, thể hiện phần đất tranh chấp, có chiều ngang là 5,00m² và chiều dài là 12,53m², thuộc một phần thửa 650, tờ bản đồ thứ 7, tại xã Đ, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh là hẻm xi măng.
Theo Công văn số:3873/TNMT ngày 10/6/2021 của Phòng Tài nguyên Môi trường huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, có nội dung: ... Ngày 26/02/2009, Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: H02391/7013907 đối với phần đất thuộc thửa 650 (tương ứng một phần thửa 193 (673,5m²), 194 (326,5m²), tờ bản đồ số 7, tài liệu BĐĐC, tương ứng một phần thửa 327, tờ bản đồ số 04, tài liệu 02/CT-UB, bộ địa chính xã Đ, mục đích sử dụng: Đất trồng cây lâu năm, diện tích 1.000m².
Ngày 31/5/2010, hộ bà Trương Thị D (gồm có Trương Thị D, Đoàn Xuân V, Đoàn Thị Đ) lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đối với phần đất thuộc thửa 650, tờ bản đồ số 7, tài liệu BĐĐC theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: H02391/7013907 cho bà Đoàn Thị T ...“ 3. Hiện trạng là đường xi măng phục vụ các hộ dân lân cận... ".
Theo Công văn số số: 60/UBND ngày 17/01/2025 của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, có nội dung:“ ...Phần đường xi măng phía T thửa 650, tờ Bản đồ số 07 (TLBĐĐC) được hình thành từ khoảng 2012 - 2013, trước đây là đường ranh bờ, thửa độ rộng khoảng 0,5m². Ngoài lối đi này các hộ dân lân cận không còn lối đi nào khác”.
[4] Như phân tích trên, để giải quyết triệt để vụ án, trong trường hợp này, Tòa án cấp sơ thẩm cần đưa ông L vào tham gia tố tụng, với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để làm rõ có việc ông L đại diện bà T thỏa thuận với ông P là bà T đồng ý cắt phần đất, có diện tích chiều ngang 5,00m² và chiều dài 12.53m², tại xã Đ, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh để làm lối đi chung cho gia đình ông P và các hộ dân lân cận hay không. Ông L có nhận số tiền 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng) từ ông P hay không? Số tiền này là có phải như ông P trình bày không nhưng Tòa án cấp sơ thẩm, không đưa ông L vào tham gia tố tụng để làm rõ các vấn đề nêu trên là thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, đưa thiếu người tham gia tố tụng, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
[5] Hơn nữa, theo mục [3], thì cần phải thu thập chứng cứ diện tích đất các bên đang tranh chấp có phải là đường đi hay không, nếu là đường đi thì được hình thành từ khi nào, diện tích khi đó là bao nhiêu và nó có nằm trong diện tích đất đã cấp cho bà T hay không. Ngoài ra, cần làm rõ vào thời điểm năm khoảng 2012 – 2013, phần đất tranh chấp là ranh bờ, thửa độ rộng khoảng 0,5m², nay là lối đi đường xi măng, có diện tích chiều ngang là 5,00m² và chiều dài là 62.2m²,
tại xã Đ, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, việc mở rộng diện tích lối đi chiều ngang thêm 4,5m² nêu trên, thuộc quyền sử dụng của ai, vì sao nó được mở rộng thêm và cần định giá phần diện tích đất đang tranh chấp cũng như có việc bị đơn có công sức đầu tư đối với phần đất này mới đảm bảo giải quyết triệt để quyền và nghĩa vụ của các đương sự. Bên cạnh đó, cần phải làm rõ, ngoài gia đình ông P có nhu cầu sử dụng đường đi chung thì còn có hộ dân nào sử dụng con đường này để vào nhà của họ hay không, từ đó, đưa họ vào tham gia tố tụng trong vụ án này, nhằm giải quyết triệt để quyền, nghĩa vụ của người dân tránh tranh chấp khiếu nại nhiều lần nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không thực hiện là thu thập chứng cứ chưa đầy đủ.
[6] Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, đưa thiếu người tham gia tố tụng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng mà cấp phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được nên chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Đoàn Thị T; Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Lập luận này cũng là cơ sở không chấp nhận đề nghị giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa.
Ngoài ra, khi Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý lại vụ án, cần xác định quan hệ pháp luật tranh chấp cho chính xác là “Tranh chấp quyền sử dụng đất là lối đi chung".
[7] Án phí dân sự sơ thẩm:Nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[8] Án phí dân sự phúc thẩm:Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án dân sự sơ thẩm nên bà Đoàn Thị T không phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 và Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị Quyết số:326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Đoàn Thị T.
- Hủy bản án dân sự sơ thẩm số: 578/2024/DS-ST ngày 14-8-2024 của Tòa án nhân dân nhân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Đoàn Thị T không phải chịu.
5.Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Thu |
Bản án số 183/2025/DS-PT ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 183/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NĐ: Đoàn Thị T BĐ: Phạm Minh P QĐ: 1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Đoàn Thị T. 2. Hủy bản án dân sự sơ thẩm số: 578/2024/DS-ST ngày 14-8-2024 của Tòa án nhân dân nhân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. 3. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
