TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 183/2024/HSST Ngày 04 tháng 12 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hòa.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Bá Ngọc; Ông Nguyễn Văn Đoàn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Quang Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, Tòa án nhân dân huyện Định Quán đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 194/2024/TLST-HS ngày 28/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 203/2024/QĐXXST-HS ngày 13/11/2024 đối với các bị cáo:
1/ Họ và tên: Tạ Thị N – sinh năm 1965 tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Nơi cư trú: Khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 02/12; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Tạ Văn B (đã chết) và bà Đỗ Thị H (đã chết); Chồng: Nguyễn Văn H1 – sinh năm 1961 và 02 con (lớn sinh năm 1984, nhỏ sinh năm 1986); Tiền án: sự: Không;
Tiền án: 02
- Tại Bản án số 120/2017/HSST ngày 28/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xử phạt 7.000.000₫ về tội “Đánh bạc”. Chấp hành xong bản án vào tháng 9/2022.
- Tại Bản án phúc thẩm số 447/2022/HS-PT ngày 16/12/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 tháng tù và phạt bổ sung 10.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/12/2023.
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/8/2024 đến nay “có mặt”.
2/ Họ và tên: Bùi Thị Út H2 – sinh năm 1987 tại Bến Tre.
Nơi cư trú: Tổ C, khu I, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: Không biết chữ. Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Bùi Văn K (đã chết) và bà Châu Thị X – sinh năm 1948; Chồng, con: Không; Tiền sự: Không.
* Tiền án: Tại bản án số 95/2022/HS-ST ngày 15/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và phạt bổ sung 10.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”.
* Về nhân thân: Tại bản án số 103/2024/HS-ST ngày 19/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán xử phạt 06 tháng tù về tội “Đánh bạc” và tổng hợp hình phạt 08 tháng tù của Bản án số 95/2022/HS-ST ngày 15/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 01 năm 02 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày chấp hành hình phạt được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 23/01/2023 đến ngày 26/01/2023.
Bị cáo chưa chấp hành hình phạt của Bản án 103/2024/HS-ST ngày 19/7/2024 thì bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/8/2024 đến nay “có mặt”.
3/ Họ và tên: Nguyễn Thị Kim C – sinh năm 1971 tại An Giang.
Nơi cư trú: Ấp A, xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 02/12; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Con ông Nguyễn Văn B1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị R (đã chết); Chồng: Quảng Văn H3 – sinh năm 1967 (đã ly hôn) và 02 con (lớn sinh năm 1989, nhỏ sinh năm 1993); Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt, tạm giữ từ ngày 07/8/2024 đến ngày 13/8/2024 được tại ngoại đến nay “có mặt”.
4/ Họ và tên: Trương Thị Kim L – sinh năm 1972 tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 5/12; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Con ông Trương Văn N1 – sinh năm 1947 và bà Lê Thị Hồng N2 – sinh năm 1957; Có chồng: Trần Văn C1 (đã chết) và 03 con (lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 1995); Tiền án: tiền sự: Không.
Bị bắt, tạm giữ từ ngày 07/8/2024 đến ngày 13/8/2024 tại ngoại “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 07/8/2024, Tạ Thị N, Bùi Thị Út H2, Trương Thị Kim L và Nguyễn Thị Kim C cùng đi đến phòng trọ của Nguyễn Ngọc Y thuộc khu phố H, thị trấn Đ chơi (lúc này, do Y có việc về quê nên nhờ L quản lý). Trong lúc ngồi chơi thì cả nhóm cùng rủ nhau và thống nhất chơi đánh bài “Tứ sắc” thắng thua bằng tiền. Sau đó, cả nhóm dùng 06 bộ bài tứ sắc, 01 tấm bìa kích thước 80cm x 80cm và 01 bóng đèn có sẵn ở trong phòng để đánh bạc.
Cách thức chơi đánh bài “Tứ sắc” như sau: Bộ bài tứ sắc gồm có 112 lá bài, trong bộ bài có 07 đạo quân gồm: “Tướng, S, T, X1, P, M, T1”, mỗi đạo quân có 16 lá bài chia đều theo 04 màu (trắng, xanh, vàng, đỏ), mỗi màu có 28 lá bài. Khi bắt đầu chơi, mỗi người được chia 20 lá bài, người cầm cái được 21 lá bài, số bài còn lại được úp trên chiếu bạc dùng để kéo bài. Người chia bài đánh ra 01 lá bài lẻ xuống, sau đó theo thứ tự từ phải qua trái, lần lượt từng người chơi tiếp theo có thể “ăn” lá bài lẻ đó nếu hợp lại đủ bộ chẵn với bài cầm trên tay và đánh đi lá bài lẻ. Nếu không “ăn” thì rút 01 lá bài để trên chiếu bạc rồi đánh đi lá bài lẻ cho đến khi hết bài trên chiếu bạc. Người nào không còn bài lẻ đầu tiên là tới “trơn” thì thắng 03 nhà còn lại mỗi nhà 50.000đ, người nào trên bài có 04 con bất kỳ giống nhau gọi là tới “quan” sẽ thắng 03 nhà còn lại mỗi nhà 100.000đ. H2, L, C và Năm quy định người nào tới “quan” thì phải bỏ ra 10.000 đồng vào rổ nhựa để khi nào đánh bài xong thì cả nhóm sẽ dùng số tiền trên mua nước uống chung. Cả nhóm đánh bạc đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ:
- Tiền mặt: 7.370.000đ, trong đó: Tiền để trong rổ nhựa thu trên chiếu bạc là 210.000đ và tiền thu trong người các đối tượng là 7.160.000đ (thu trong người Huệ là 2.280.000đ, thu trong người Năm là 1.680.000đ, thu trong người Chi là 3.200.000₫).
- Dụng cụ đánh bạc bao gồm: 06 bộ bài tứ sắc đã qua sử dụng, 01 tấm bìa kích thước 80cm x 80cm và 01 bóng đèn.
- 01 rổ nhựa dùng để đựng tiền.
Quá trình điều tra, xác định được như sau: Chi dùng 3.100.000đ để đánh bạc, thắng 100.000đ. H2 dùng 2.280.000đ để đánh bạc, H2 không thắng, không thua. Năm dùng 1.630.000đ để đánh bạc, thắng 50.000đ. L dùng 360.000đ để đánh bạc, thua 360.000₫.
Tổng số tiền dùng để đánh bạc là 7.370.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 318/CT-VKSĐQ ngày 23/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố các bị cáo Bùi Thị Út H2, Trương Thị Kim L và Nguyễn Thị Kim C về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Bị cáo Tạ Thị N về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự
Tại phiên tòa, việc tranh tụng diễn ra như sau:
1/ Kiểm sát viên giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị áp dụng khoản 1 và khoản 2 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; 58 Bộ luật hình sự, xử phạt:
- - Phạt bị cáo Tạ Thị N từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù;
- - Bị cáo Bùi Thị Út H2 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù’
- - Nguyễn Thị Kim C từ 30 đến 35 triệu đồng;
- - Trương Thị Kim Liên từ 20 đến 25 triệu đồng.
Kiểm sát viên còn nêu quan điểm về xử lý vật chứng và án phí vụ án.
2/ Các bị cáo Tạ Thị N, Bùi Thị Út H2, Trương Thị Kim L và Nguyễn Thị Kim C thành khẩn nhận tội và xin giảm nhẹ hình phạt. Các bị cáo đều xác định ngoài các tình tiết giảm nhẹ đã nêu trong cáo trạng thì các bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ để kết tội đối với các bị cáo:
Tại phiên tòa, các bị cáo Tạ Thị N, Bùi Thị Út H2, Trương Thị Kim L và Nguyễn Thị Kim C đã khai nhận tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp nhau; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; phù hợp với bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố các bị cáo nên Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 07/8/2024, tại phòng trọ ở khu phố H, thị trấn Đ, Công an huyện Đ phối hợp với Công an thị trấn Đ đã phát hiện, bắt quả tang Năm, H2, L, C đang có hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài “Tứ sắc”.
Tổng số tiền mà các bị cáo dùng để đánh bạc là 7.370.000đ nên hành vi của các bị cáo N, H2, L, C đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo Điều 321 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo Tạ Thị N đang có tiền án nay lại tiếp tục phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng là “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Xét thấy: Đánh bạc là tệ nạn xã hội, là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác nên pháp luật nghiêm cấm. Các bị cáo Tạ Thị N, Bùi Thị Út H2, Trương Thị Kim L và Nguyễn Thị Kim C biết rõ điều này nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Trong thời gian qua tình hình tội phạm đánh bạc trên địa bàn diễn biến hết sức phức tạp, gây ra nhiều hệ lụy xấu; hành vi của các bị cáo không những đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng mà còn làm ảnh hưởng xấu về an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Việc đưa ra xét xử và tuyên cho các bị cáo một hình phạt tương xứng là hình phạt tù để trừng phạt các bị cáo vừa để răn đe phòng ngừa chung trong xã hội là cần thiết.
[4] Phân hóa mức độ hành vi của các bị cáo:
Đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn, tính chất, mức độ hành vi của từng bị cáo được phân hóa như sau:
- Bị cáo Tạ Thị N dùng 1.630.000đ để đánh bạc nhưng do bị cáo đã tái phạm về tội đánh bạc nay lại tiếp tục phạm tội đánh bạc là xem thường pháp luật, không chịu hối cải nên phải bị xử lý nghiêm.
- Bị cáo Bùi Thị Út H2 dùng 2.280.000đ để đánh bạc và bị cáo là người có tiền án nên cũng bị xử lý nghiêm. Bản án số 103/2024/HS-ST ngày 19/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán có hiệu lực nên Tòa án tổng hợp hình phạt và buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung theo Điều 56 Bộ luật hình sự.
- Bị cáo Nguyễn Thị Kim C dùng 3.100.000đ – Là số tiền cao nhất so với các bị cáo khác để đánh bạc. Bị cáo đã bán nhà tại ấp A, xã G và hiện không có nơi ở ổn định nên không thể cho hưởng án treo.
- Bị cáo Trương Thị Kim L dùng 360.000 để đánh bạc, nên phải chịu trách nhiệm tương xứng.
[5] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy rằng:
Ngoại trừ bị cáo Bùi Thị Ú Huệ có 01 tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự thì các bị cáo khác không có tình tiết tặng nặng.
Các bị cáo Trương Thị Kim L và Nguyễn Thị Kim C có 02 tình tiết giảm nhẹ là phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo N và H2 có 01 tình tiết giảm nhẹ là “thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo N, H2, L, C đều là phụ nữ, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, học vấn thấp nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Về biện pháp tư pháp và các vấn đề khác:
- Số tiền 7.370.000đ là tiền đánh bạc nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
- Đối với Nguyễn Ngọc Y là chủ phòng trọ nơi các bị cáo đánh bạc nhưng chị Y không biết. Cơ quan điều tra không xử lý đối với chị Y là đúng.
- 06 bộ bài tứ sắc đã qua sử dụng, 01 tấm bìa kích thước 80cm x 80cm, 01 bóng đèn và 01 rổ nhựa dùng để đựng tiền: Là công cụ phạm tội không có giá trị nên tiêu hủy.
[7] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều luật, biện pháp tư pháp là phù hợp và có căn cứ nên được chấp nhận.
[8] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Tạ Thị N, Bùi Thị Út H2, Trương Thị Kim L và Nguyễn Thị Kim C phạm tội “Đánh bạc”.
2/ Về luật áp dụng:
- - Đối với bị cáo Tạ Thị N: Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự.
- - Đối với bị cáo Bùi Thị Út H2: Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 56; Điều 58 của Bộ luật hình sự.
- - Đối với các bị cáo Trương Thị Kim L và Nguyễn Thị Kim C: Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
3/ Về hình phạt:
- - Phạt bị cáo Tạ Thị N 03 (ba) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 07/8/2024.
- - Phạt bị cáo Bùi Thị Út H2 01 (một) năm tù. Tổng hợp hình phạt 01 năm 02 tháng tù tại bản án số 103/2024/HS-ST ngày 19/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán: Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 07/8/2024 được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 23/01/2023 đến ngày 26/01/2023.
- - Phạt Nguyễn Thị Kim C 08 (tám) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt tại phiên tòa (ngày 04/12/2024), được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 07/8/2024 đến ngày 13/8/2024.
- - Phạt bị cáo Trương Thị Kim L 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo L cho UBND thị trấn Đ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
4/ Về biện pháp tư pháp:
- - Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 7.370.000đ (Theo biên lai thu tiền số 0006031 ngày 23/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán).
- - Tịch thu tiêu hủy 06 bộ bài tứ sắc đã qua sử dụng, 01 tấm bìa kích thước 80cm x 80cm, 01 bóng đèn và 01 rổ nhựa (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/10/2024 giữa VKSND huyện Định Quán với Chi cục THADS huyện Đ).
5/ Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
6/ Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Xuân Hòa |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM | |
CÁC THÀNH VIÊN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Huỳnh Bá Ngọc Nguyễn Văn Đoàn | Lê Xuân Hòa |
Bản án số 183/2024/HSST ngày 04/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm (vụ án đánh bạc)
- Số bản án: 183/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Vụ án Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tạ Thị N + ĐP - Đánh bạc
