Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NGÔ QUYỀN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 183/2024/HS-ST

Ngày 06-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hồng Phương

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Nguyễn Thị Tư

Bà Hà Thị Mão

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Trọng Kiên – Thư ký Toà án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Trần Thành Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 172/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 468/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Văn T, sinh ngày 07 tháng 12 năm 1985 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn L, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H và bà Nguyễn Thị T1; có vợ là chị Đào Ngọc L (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Bản án số 44/2011/HSST ngày 14/7/2011, Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (đã được xóa án tích); Tại Bản án số 62/2017/HSST ngày 15/12/2017, Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xử phạt 42 tháng tù về tội Cướp giật tài sản (đã được xóa án tích); tạm giữ từ ngày 22/3/2024, chuyển tạm giam từ ngày 25/3/2024; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do bản thân nghiện ma túy nên khoảng 11 giờ 30 phút ngày 22/3/2024, Lê Văn T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 16M5-4817 đi đến khu vực đường T, quận L, thành phố Hải Phòng mua của một người đàn ông không quen biết 300.000 đồng được 03 gói ma túy Heroine đựng trong 03 gói nilon màu xanh. Lê Văn T cầm số ma túy mua được trong lòng bàn tay rồi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 12 giờ 25 phút cùng ngày khi T đi đến khu vực ngõ A L, Cầu Đ, quận N, thành phố Hải Phòng thì bị Công an phường C, quận N bắt quả tang Lê Văn T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ: 03 gói nilon màu xanh bên trong mỗi gói đều có 01 gói giấy kích thước 1x2cm bên trong chứa chất bột trắng dưới đất nơi Lê Văn T đứng, 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave biển kiểm soát 16M5-4817, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh gắn sim số 0393535597 đã qua sử dụng.

Ngoài ra, Lê Văn T còn khai nhận: Ngày 20/3/2024, bị cáo mua 200.000 đồng ma túy đá của người đàn ông không quen biết tại đường T, L, Hải Phòng sau đó tự mang ra bãi đất trống tại khu vực đường Đ, quận N, Hải Phòng tự sử dụng một mình.

Tại Kết luận giám định số 357/KL-KTHS ngày 25/3/2024 của Phòng K1 - Công an thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,23 gam, là loại Heroine.

Tại Cáo trạng số 173/CT-VKSNQ ngày 05 tháng 7 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền truy tố bị cáo Lê Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 27 tháng đến 33 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong 357MT/PC09 bên trong chứa 0,14 gam ma túy và vỏ bao gói hoàn lại sau giám định; trả lại cho bị cáo Lê Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng (kèm theo sim).

  • - Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi như nội dung nêu trên và bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang được lập vào hồi 12 giờ 40 phút ngày 22/3/2024, phù hợp với nội dung kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 25 phút ngày 22/3/2024, tại khu vực ngõ A L, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng, bị cáo Lê Văn T đã có hành vi cất giấu bất hợp pháp 0,23 gam Heroine để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự, trị an ở địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt:

[3] Về nhân thân: Bị cáo có 02 tiền án đã được xóa án tích, do đó bị cáo có nhân thân xấu.

[4] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Tội phạm ma túy đang có diễn biễn phức tạp và chiều hướng gia tăng. Ma túy đã gây tác hại to lớn đối với con người và cộng đồng, là nguyên nhân làm mất trật tự, an toàn xã hội, là nguồn gốc phát sinh các tệ nạn xã hội, gia tăng các loại tội phạm nên hình phạt đối với tội phạm ma túy cần phải nghiêm khắc mới đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng chống loại tội phạm này. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, xét tội phạm mà bị cáo thực hiện là nghiêm trọng. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

[7] Theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo nghề nghiệp không ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

[8] Số ma túy thu giữ của bị cáo sau khi giám định còn lại, liên quan đến tội phạm, thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[9] Về 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme đã qua sử dụng, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành mở, kiểm tra chi tiết điện thoại kết quả không phát hiện tài liệu gì liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo Lê Văn T theo điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Về án phí:

[10] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Những vấn đề khác:

[11] Về chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave biển kiểm soát 16M5-4817, kết quả xác minh có số khung, số máy của xe là số nguyên thủy, không bị tẩy xóa, sửa chữa, tên chủ xe là Phạm Văn K (đã chết). Làm việc với anh Phạm Văn H1 là con trai của ông Phạm Văn K được biết: Năm 2007, ông K đã bán xe mô tô trên cho một người đàn ông không quen biết. Tại cơ quan điều tra, Lê Văn T khai mua xe mô tô của một người đàn ông không quen, hiện tại đã làm thất lạc giấy đăng ký xe mô tô trên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe nên đã ra Quyết định tách hành vi, tài liệu liên quan đến vụ hình sự số 1816/QĐ-ĐCSMT ngày 19/6/2024 để tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy, việc xử lý của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N phù hợp với quy định của pháp luật.

[12] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lê Văn T thì ngày 18/6/2024, Công an quận N, thành phố Hải Phòng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 103/QĐ-XPHC, phạt tiền Lê Văn T 1.500.000 đồng.

[13] Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo, đến nay chưa xác định được căn cước lai lịch, địa chỉ nên chưa có căn cứ xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn T 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22 tháng 3 năm 2024.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 357MT/PC09 chứa 0,14 gam ma túy và vỏ bao gói hoàn lại sau giám định.

Trả lại cho bị cáo Lê Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh đã qua sử dụng (kèm theo sim).

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 05/7/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng).

Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Lê Văn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND Quận Ngô Quyền;
  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - TAND TP. Hải Phòng;
  • - CQCSĐT- Công an Quận Ngô Quyền;
  • - CQTHAHS- Công an Quận Ngô Quyền;
  • - Công an Quận Ngô Quyền;
  • - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng;
  • - Chi cục THA DS Quận Ngô Quyền;
  • - Trại tạm giam- Công an thành phố Hải Phòng;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Thị Hồng Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 183/2024/HS-ST ngày 06/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 183/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tại Kết luận giám định số 357/KL-KTHS ngày 25/3/2024 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,23 gam, là loại Heroine
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger