|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc. |
Bản án số: 183/2024/HS-PT
Ngày: 27/9/2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Quốc Thành.
Các Thẩm phán: Bà Lê Thu Hương.
Bà Lê Thị Phương Thanh.
- Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:
Bà Lê Thị Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 233/2024/TLPT-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024. Do Bản án hình sự sơ thẩm số 264/2024/HS-ST ngày 17 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 221/2024/QĐXXPT-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024, đối với:
* Bị cáo kháng cáo: Họ và tên Nguyễn Ngọc M, tên gọi khác: Không - Sinh năm 1986 tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi ĐKNKTT: Số nhà H K, phường G, quận H, thành phố Hà Nội;
Nơi ở hiện nay: Số nhà I T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Kế toán; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nữ; Con ông Nguyễn Trường S (đã chết); Con bà Nguyễn Thanh P (SN 1960); Chồng là Lê Đỗ T (SN 1981); Có 03 con (lớn nhất SN 2009, nhỏ nhất SN 20 20); Tiền án; Tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ từ ngày 09/01/2024, đến ngày 18/01/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt tại phiên toà).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (không kháng cáo):
- Ông Đỗ Xuân Q (SN 1973). Nơi cư trú: Số nhà C T, phường A, TP T, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).
- Ông Trần Thanh T1 (SN 1972). Nơi cư trú: thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt)
- Ông Lại Anh H (SN 1973). Nơi cư trú: SN G L, phường Đ, TP T, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).
- Chị Lê Thị K (SN 1990). Nơi cư trú: Liền kề 1, Khu đô thị A, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).
- Anh Lê Văn N (SN 1982). Nơi cư trú: Số nhà C T, phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).
- Bà Lê Thị N1 (SN 1959). Nơi cư trú: Thôn P, thị trấn B, huyện H, Thanh Hóa (vắng mặt).
- Anh Trương Thanh Q1 (SN 1985). Nơi cú trú: Căn hộ 1507, P, chung cư T, phường V, quận H, thành phố Hà Nội (vắng mặt).
- Chị Vũ Thị T2 (SN 1983). Nơi cú trú: Căn hộ 840, CT8A, chung cư Đ, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội (vắng mặt).
- Chị Vũ Anh T3 (SN 1982). Nơi cú trú: Số nhà C Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Anh T4 (SN 1973). Nơi cú trú: Số nhà A, quận L, thành phố Hải Phòng (vắng mặt).
- Bà Đào Thị Hương G (SN 197. Nơi cú trú: Số nhà B Ngõ Đ, H, phường C, quận L, thành phố Hải Phòng (vắng mặt).
- Chị Lê Thị Ngọc D (SN 1989). Nơi cú trú: Số D N, Đ, quận H, thành phố Hải Phòng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty TNHH MTV C1 (Công ty C1), MST 2800530031 có địa chỉ tại phố Q, phường A, thành phố T, do Trần Ngọc C là đại diện theo pháp luật và là Giám đốc quản lý điều hành, hoạt động kinh doanh, chế biến các mặt hàng đá mỹ nghệ và sửa chữa xe cơ giới, sản xuất thiết bị cơ khí được cấp phép hoạt động kinh doanh từ năm 2008, kế toán công ty là Nguyễn Thị H1. Do nhận được tin báo tố giác về việc Công ty C1 có dấu hiệu mua bán trái phép hóa đơn giá trị gia tăng (hoá đơn GTGT) cho các cá nhân, đơn vị có nhu cầu. Nên ngày 09/01/2024, khi tiến hành triệu tập Trần Ngọc C và Nguyễn Thị H1 đến làm việc, tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T, cả hai đã xin đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau:
Trong khoảng thời gian từ năm 2022 đến năm 2023, Công ty TNHH MTV C1 được cấp phép hoạt động trong lĩnh vực sửa chữa và bảo dưỡng các loại xe ô tô. Tuy nhiên khi nắm bắt được nhiều đơn vị khác có nhu cầu sử dụng hóa đơn GTGT để hợp pháp hóa đơn đầu vào của công ty mình, nên Trần Ngọc C đã chỉ đạo Nguyễn Thị H1 là kế toán công ty xuất bán hóa đơn GTGT không có hàng hóa, dịch vụ kèm theo để thu lời bất chính, nội dung ghi trên hóa đơn là sửa chữa và bảo dưỡng xe các loại ô tô. Để thực hiện việc xuất bán trái phép hóa đơn GTGT thì H1 là người trực tiếp liên hệ với những cá nhân, đơn vị có nhu cầu mua, đồng thời lập chứng từ, hóa đơn, thực hiện giao dịch thanh toán sau đó chuyển cho Trần Ngọc C để C ký vào phần đại diện doanh nghiệp.
Quá trình điều tra xác định H1 là nhân viên công ty nên được hưởng lương theo tháng (người lao động). Số tiền thu lợi bất chính từ việc bán hóa đơn thì Nguyễn Thị H1 không được hưởng. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Trần Ngọc C và Nguyễn Thị H1 thừa nhận hành vi phạm tội như sau:
- Xuất bán 40 hóa đơn GTGT không có hàng hóa, dịch vụ kèm theo cho Công ty TNHH V và TM xăng dầu V với tổng số tiền hàng hóa trước thuế là 329.920.000₫ (ba trăm hai chín triệu, chín trăm hai mươi nghìn đồng), hưởng lợi 8% giá trị hàng hóa trên hóa đơn tương đương với số tiền bất chính được hưởng là 26.393.600đ (hai sáu triệu, ba trăm chín ba nghìn, sáu trăm đồng).
- Xuất bán 10 (mười) số hóa đơn GTGT không có hàng hóa, dịch vụ kèm theo cho Công ty TNHH N2 với tổng giá trị hàng hoá ghi trên hoá đơn trước thuế là 3.765.235.000đ (ba tỷ, bảy trăm sáu lăm triệu, hai trăm ba lăm nghìn) hưởng lợi 4% giá trị hàng hóa trên hóa đơn tương đương với số tiền bất chính được hưởng là 150.609.400đ (một trăm năm mươi triệu, sáu trăm lẻ chín nghìn, bốn trăm đồng).
I. Đối với việc bán trái phép hóa đơn GTGT của Công ty C1 cho Công ty N2:
Công ty TNHH N2, MTS: 2802935234, địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, Giám đốc: Lê Văn N (SN 1982), HKTT tại: Số nhà C T, phố T, phường A, TP . và vợ là Viên Thị Kim T5 đồng thời cũng là kế toán của Công ty. Quá trình làm việc T5 khai nhận: Công ty TNHH N2 là công ty gia đình hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh đá mỹ nghệ, quá trình hoạt động kinh doanh, T5 là người trực tiếp liên hệ mua hàng hóa đầu vào là đá các loại. Vào năm 2022, để hợp thức số hàng hóa là đá mua trôi nổi trên thị trường không có hóa đơn, chứng từ, T5 đã liên hệ trực tiếp với Trần Ngọc C để mua 10 số hóa đơn GTGT “khống” với tổng giá trị hàng hoá ghi trên hoá đơn trước thuế là 3.765.235.000đ (ba tỷ, bảy trăm sáu lăm triệu, hai trăm ba lăm nghìn) với mức phí mua hóa đơn 4% trên tổng giá trị hàng hóa ghi trên hóa đơn trước thuế, tương ứng với số tiền 150.609.400đ (một trăm năm mươi triệu, sáu trăm lẻ chín nghìn, bốn trăm đồng). T5 là người hợp thức hóa hồ sơ, chứng từ về việc giao dịch kinh tế và giao dịch trực tiếp với Công ty TNHH MTV C1 thông qua Nguyễn Thị H1, sau đó đưa cho Lê Văn N kí duyệt và thanh toán tiền qua tài khoản cho Công ty TNHH MTV C1. Số tiền trên H1 sẽ rút trừ đi phí bán hóa đơn là 4% rồi hoàn lại cho T5. Do Công ty TNHH N2 là công ty G1, T5 là người trực tiếp thực hiện các hoạt động mua hàng hoá đầu vào, nên việc T5 mua hàng hóa trôi nổi và mua hóa đơn GTGT “khống” của Công ty C1, Lê Văn N không biết và không tham gia. Số hóa đơn GTGT trên đã được T5 giao cho kế toán Lê Thị N1 (SN 1959), trú tại P, thị trấn B, huyện H, tỉnh Thanh Hóa đưa vào chứng từ hàng hóa mua vào và thực hiện kê khai thuế với cơ quan chức năng. Việc T5 mua bán trái phép hóa đơn kế toán Lê Thị N1 không biết và cũng không tham gia.
II. Đối với Công ty V:
1. Về hành vi mua trái phép hóa đơn GTGT xảy ra tại Công ty V:
Năm 2022 và 2023, Trần Văn T6, Đỗ Xuân Q (SN 1973), trú tại C T, phường A, TP ., Trần Thanh T1 (SN 1972), trú tại thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa và một số lái xe khác (không xác định được) có làm việc tại Công ty TNHH V với nhiệm vụ là lái xe. Quá trình vận hành phương tiện do bị hư hỏng cần phải sữa chữa nhưng các cửa hàng, gara ôtô thực hiện sửa chữa, bảo dưỡng lại không xuất được hóa đơn GTGT. Vì vậy, T6, Q và T1 đã liên hệ trực tiếp với Nguyễn Thị H1 để mua trái phép hóa đơn với phí 8%, sau đó giao cho anh Lại Anh H (SN 1973) ở SN G L, phường Đ, TP . (quản lý đội xe) kí xác nhận rồi tiếp tục chuyển lại đưa cho kế toán Lê Thị K (SN 1990) ở L, khu đô thị A, phường Đ, TP . và nói do Công ty TNHH MTV C1 sửa chữa để được thanh toán cụ thể:
- Trần Văn T6 mua 14 (mười bốn) hóa đơn GTGT của Nguyễn Thị H1 với tổng giá trị hàng hoá trên hoá đơn trước thuế là 134.850.000đ (một trăm ba mươi tư triệu, tám trăm năm mươi nghìn đồng), chi phí để trả mua hóa đơn cho H1 là 8%, tương ứng với số tiền 10.788.000đ.
- Đỗ Xuân Q mua 07 (bảy) số hóa đơn GTGT với tổng giá trị hàng hoá trên hoá đơn trước thuế là 38.620.000đ (ba tám triệu, sáu trăm hai mươi nghìn đồng), chi phí để trả mua hóa đơn cho H1 là 8%, tương ứng với số tiền 3.089.600đ.
- Trần Thanh T1 mua 01 (một) số hóa đơn GTGT với giá trị hàng hoá trên hoá đơn trước thuế là 15.920.000đ (mười lăm triệu, chín trăm hai mươi nghìn đồng), chi phí để trả mua hóa đơn cho H1 là 8%, tương ứng với số tiền 1.273.600đ.
- 18 (mười tám) hóa đơn GTGT còn lại Nguyễn Thị H1 xuất bán cho một số lái xe cũng là nhân viên của Công ty V không xác định được nhân thân, lai lịch của những người này với tổng giá trị hàng hoá trên hoá đơn trước thuế là 140.530.000₫ (một trăm bốn mươi triệu, năm trăm ba mươi nghìn đồng), chi phí để trả mua hóa đơn cho H1 là 8%, tương ứng với số tiền 11.242.400đ. Tại Công ty TNHH V, lái xe làm việc theo hợp đồng ngắn hạn, Công ty không lưu giữ hồ sơ nhân sự lái xe, nên không có căn cứ xác định người trực tiếp liên hệ mua 18 hóa đơn trên.
2. Hành vi bán trái phép hóa đơn GTGT của Công ty V:
Căn cứ tài liệu chứng cứ đã thu thập, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T tiến hành khám xét khẩn cấp trụ sở Công ty TNHH V, MST: 2802198911 có địa chỉ tại số S T, phường Đ, TP . thu giữ các tài liệu gồm chứng từ, hóa đơn liên quan. Ngày 10/01/2024, Cơ quan Điều tra đã tiến hành làm việc với Nguyễn Ngọc M - Giám đốc Công TNHH V, Lê Thị H2 - kế toán bán buôn, xuất hóa đơn, Lê Thị H3 - kế toán thủ quỹ, ngân hàng, Nguyễn Cường T7 - nhân viên kinh doanh C2.
Tại Cơ quan Điều tra Nguyễn Ngọc M xin tự thú, Lê Thị H2, Lê Thị H3 và Nguyễn Cường T7 đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội bán trái phép hóa đơn GTGT cụ thể như sau: Đối với 40 hóa đơn GTGT Công ty TNHH MTV C1 xuất cho Công ty TNHH V được thu giữ tại hồ sơ chứng từ đầu vào của C2. Số hóa đơn GTGT trên Nguyễn Ngọc M khai nhận do bộ phận lái xe Công ty sử dụng thanh toán chi phí sữa chữa xe ô tô của Công ty. M không biết số hóa đơn GTGT trên là hóa đơn “khống” và không chỉ đạo việc mua số hóa đơn trên. Căn cứ tài liệu trên chứng từ xác định 14 (mười bốn) số hóa đơn GTGT do Trần Văn T6 mua và thanh toán; 07 (bảy) số hóa đơn GTGT do Đỗ Xuân Q mua và thanh toán 01 (một) số hóa đơn GTGT do Trần Thanh T1 mua và thanh toán. Còn 28 (hai tám) hóa đơn còn lại trên tài liệu không thể hiện thông tin người mua (như đã nêu trên). Lời khai của Trần Văn T6, Đỗ Xuân Q, Trần Thanh T1 phù hợp với lời khai của Nguyễn Ngọc M, Nguyễn Thị H1 và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được.
Ngoài ra, trong khoảng thời gian từ năm 2022-2023 quá trình hoạt động kinh doanh Công ty TNHH V dư thừa hóa đơn GTGT đầu ra các mặt hàng xăng dầu (do khách hàng lẻ không yêu cầu xuất hóa đơn GTGT). Nguyễn Ngọc M chỉ đạo Lê Thị H2, Lê Thị H3 và Nguyễn Cường T7 xuất bán hóa đơn GTGT “khống” không có dịch vụ hàng hóa kèm theo cho các cá nhân, đơn vị có nhu cầu để thu lời. Trong đó M là người trực tiếp liên hệ với người mua hóa đơn, H2 là kế toán lập chứng từ xuất hóa đơn, H3 thực hiện giao dịch rút tiền và T7 nhận tiền rồi trả lại cho cá nhân, đơn vị mua hóa đơn nhằm hợp thức việc mua bán hàng hóa là thực tế.
Quá trình điều tra đã xác định: Nguyễn Ngọc M, Lê Thị H2, Lê Thị H3 và Nguyễn Cường T7 đã xuất bán trái phép 14 (mười bốn) số hóa đơn GTGT “khống”cho Công ty TNHH T8:0105974987, địa chỉ: Số A đường C Khu đô thị G, phường Y, quận H, TP . Hà Nội thông qua Nguyễn Thị Kim H4 với số lượng là 1.450.000L (một triệu, bốn trăm năm mươi nghìn) lít “dầu”, tổng giá trị hàng hóa là 24.808.181.819đ (hai tư tỷ, tám trăm lẻ tám triệu, tám trăm mười chín đồng) với mức phí 400đ/lít tương ứng số tiền hưởng lợi là: 580.000.000đ (năm trăm tám mươi triệu đồng). Xuất bán 19 (mười chín) số hóa đơn GTGT “khống” cho Công ty cổ phần V1 và cung ứng xăng dầu, MST: 0200458904, địa chỉ: SN F T, phường M, quận N, TP . Hải Phòng cho Nguyễn Mạnh H5 - nhân viên công ty với số lượng 1.106.309L (một triệu, một trăm lẻ sáu nghìn, ba trăm lẻ chín nghìn) lít “dầu”, tổng giá trị hàng hoá trên hoá đơn trước thuế là 20.076.857.717đ (hai mươi tỷ, không trăm bảy sáu triệu, tám trăm năm bảy nghìn, bảy trăm mười bảy đồng) với mức phí 400đ/lít tương ứng số tiền hưởng lợi là 442.523.600đ (bốn trăm bốn hai triệu, năm trăm hai ba nghìn, sáu trăm đồng). Như vậy, xác định M, H2, H3 và T7 đã bán trái phép 33 hóa đơn GTGT “khống” ghi nội dung hàng hóa là “dầu” với mức phí bán hóa đơn là 400đ/lít dầu (H3 tham gia 14 hóa đơn) cho các công ty khác thu lời bất chính 1.022.523.600đ (một tỷ, không trăm hai hai triệu, năm trăm hai ba nghìn, sáu trăm đồng). H3 không được M chỉ đạo khi rút tiền trừ phí bán hóa đơn và không tham gia vào việc mua bán 19 hóa đơn với Công ty CP C3 không xem xét trách nhiệm hình sự Lê Thị H3 trong việc mua bán 19 số hóa đơn GTGT nêu trên. Số tiền thu lời bất chính M là người hưởng lợi. H2, H3 và T7 đều là kế toán, nhân viên nhận lương hàng tháng của Công ty không được hưởng tiền từ tiền thu lời bán hóa đơn trên cụ thể:
* Bán hóa đơn GTGT trái phép của Công ty V cho Công ty P1:
Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an T đã tiến hành triệu tập và làm việc với Trương Thanh Q1, Giám đốc công ty TNHH T9 và Nguyễn Thị Kim H4 (là vợ). Tại Cơ quan Điều tra, H4 giao nộp 14 (mười bốn) hoá đơn GTGT của Công ty TNHH V xuất cho Công ty TNHH T9 và có đơn xin đầu thú, khai nhận quá trình thực hiện hành vi phạm tội: Công ty TNHH T9 là công ty gia đình hoạt động kinh doanh trong lĩnh lực buôn bán xăng dầu, H4 là người trực tiếp liên hệ mua bán hàng hóa. Năm 2023, trong quá trình kinh doanh H4 đã liên hệ và mua “dầu” trôi nổi trên thị trường không có hóa đơn, chứng từ. Để hợp thức nguồn gốc số hàng hóa trên H4 đã liên hệ với Nguyễn Ngọc M - Giám đốc Công ty TNHH V (là đơn vị bán buôn, bán lẻ xăng dầu) để mua 14 hóa đơn không có hàng hóa, dịch vụ kèm theo với số lượng hàng hóa ghi trên hóa đơn là 1.450.000L (một triệu, bốn trăm năm mươi nghìn lít) “dầu” tương đương giá trị hàng hoá trên hoá đơn trước thuế là 24.808.181.819đ (hai tư tỷ, tám trăm linh tám triệu, một trăm tám mốt nghìn, tám trăm mười chín đồng). Sau đó, H4 đã trao đổi với giám đốc Trương Thanh Q1 về việc mua hàng hóa thực tế tại Công ty TNHH V và yêu cầu kế toán Vũ Thị T2 (SN 1983) trú tại: P, CT8A, Chung cư Đ, xã T, huyện T, TP . Hà Nội và Vũ Anh T3 (SN 1982) trú tại số nhà C Đ, phường Đ, quận H, TP . Hà Nội lập hồ sơ chứng từ liên quan giao dịch kinh tế rồi trình cho Trương Thanh Q1 kí duyệt. Sau đó, H4 liên hệ với M để xuất hóa đơn với phí là 400đ/lít, tương ứng số tiền H4 trả cho M là 580.000.000đ (năm trăm tám mươi triệu đồng).
* Bán hóa đơn GTGT trái phép của Công ty V cho Công ty cổ phần V1 và cung ứng xăng dầu:
Cơ quan Cảnh sát Điều tra tiến hành khám xét trụ sở Công ty cổ phần V1 và cung ứng xăng dầu, phát hiện thu giữ hợp đồng kinh tế mua bán xăng dầu với Công ty TNHH V.
Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T, Nguyễn Mạnh H5 có đơn xin đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình: Công ty cổ phần V1 và cung ứng xăng dầu do anh Nguyễn Anh T4 (SN 1973) trú tại số nhà A, phường Đ, quận L, thành phố Hải Phòng làm Phó giám đốc điều hành trực tiếp kinh doanh và quản lý hàng hóa mua vào, bán ra trong lĩnh vực xăng dầu. Năm 2022, Nguyễn Mạnh H5 là nhân viên kinh doanh được công ty giao nhiệm vụ tìm kiếm trên thị trường để mua hàng hóa đầu vào với mục đích thương mại. Lợi dụng sơ hở trong công tác quản lý tại Công ty, H5 đã liên hệ mua hàng hóa là “dầu” trôi nổi trên thị trường với giá chiết khấu cao, sau đó liên hệ với Nguyễn Ngọc M - Giám đốc Công ty TNHH V mua 19 hóa đơn “khống” để hợp thứ số hàng hoá mà H5 đã mua với mức phí 400đ/lít. H5 báo cáo với Phó Giám đốc Nguyễn Anh T4 về việc mua hàng hóa thực tế tại Công ty TNHH V. Sau đó, dựa trên số lượng hàng hoá mua thực tế H5 báo cáo số liệu với Đào Thị Hương G (SN 1974) trú tại: số nhà B ngõ Đ - H, phường C, quận L, TP . Hải Phòng - Trưởng phòng kinh doanh và Lê Thị Ngọc D (SN 1989) trú tại: số nhà D N, phường Đ, quận H, TP . là kế toán của Công ty cổ phần C3 để lập hồ sơ chứng từ liên quan đến việc giao dịch kinh tế trình Nguyễn Tuấn A ký duyệt.
Quá trình điều tra xác định, H5 mua hàng hóa trôi nổi trên thị trường được chiết khấu 480đ/lít. Trong đó, chi trả phí mua hóa đơn cho Nguyễn Ngọc M là 400đ/lít. Số còn lại H5 thu lợi là 80đ/1lít trên tổng 19 số hóa đơn với số lượng 1.106.309 (một triệu, một trăm lẻ sáu nghìn, ba trăm lẻ chín nghìn) lít “dầu” có giá trị hàng hóa là 20.076.857.717đ (hai mươi tỷ, không trăm bảy sáu triệu, tám trăm năm bảy nghìn, bảy trăm mười bảy đồng) tương ứng với số tiền H5 hưởng lợi bất chính là 88.504.720đ (tám mươi tám triệu, năm trăm lẻ bốn nghìn, bảy trăm hay mươi đồng).
Quá trình điều tra xác định các bị cáo Nguyễn Thị Kim H4, Nguyễn Mạnh H5, Viên Thị Kim T5 không phải là người có nghĩa vụ nộp thuế tại các Công ty TNHH T9, Công ty cổ phần C3, Công ty TNHH N2 nên không xem xét trách nhiệm hình sự về hành vi trốn thuế. Tuy nhiên các Công ty TNHH T9, Công ty cổ phần C3 và Công ty TNHH N2 đã sử dụng các hóa đơn khống để kê khai khấu trừ thuế GTGT và hạch toán chi phí đầu vào. Cơ quan CSĐT- C4 có các văn bản số 252, 253, 254, 255 ngày 17/05/2024 gửi các Chi cục thuế Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa; Chi cục thuế H8, thành phố Hà Nội; Cục thuế tỉnh T; Cục thuế thành phố H. Đề nghị các đơn vị quản lý thuế yêu cầu các đơn vị kê khai bổ sung, giảm trừ đối với số hóa đơn GTGT khống và truy thu thuế tránh gây thất thoát ngân sách nhà nước.
* Về trách nhiệm dân sự: Ngày 07 và 10/6/2024, Nguyễn Mạnh H5 đã tự nguyện giao nộp lại 88.504.720đ (tám mươi tám triệu, năm trăm lẻ bốn nghìn, bảy trăm hay mươi đồng) tiền hưởng lợi bất chính; Trần Ngọc C đã tự nguyện giao nộp lại số tiền 177.003.000đ (một trăm bảy mươi bảy triệu, không trăm lẻ ba nghìn đồng); Nguyễn Ngọc M đã tự nguyện giao nộp lại 500.000.000₫ (năm trăm triệu đồng) tiền hưởng lợi bất chính tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thanh Hóa theo biên lai thu tiền số 0000717; 0000718; 0000720.
* Thu giữ vật chứng:
- Khám xét trụ sở Công ty TNHH MTV C1 phát hiện thu giữ: 01 (một) bản sao giấy đăng ký kinh doanh công ty TNHH MTV C1, MST 2802904701.
- Nguyễn Thị H1 tự nguyện giao nộp: 40 (bốn mươi) hoá đơn GTGT của Công ty TNHH MTV C1 xuất cho Công ty TNHH V; 10 (mười) hoá đơn GTGT của Công ty TNHH MTV C1 xuất cho Công ty N2; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A70 màu trắng, số Imei 1: 355915100558113, Imei 2: 355916100558111.
- Khám xét Công ty TNHH V phát hiện thu giữ: 01 (một) bản sao giấy phép đăng ký kinh doanh Công ty TNHH V; 01 (một) con dấu Công ty TNHH V.
- Nguyễn Ngọc M giao nộp 14 (mười bốn) hoá đơn GTGT của Công ty TNHH V xuất cho Công ty TNHH T9; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím.
- Nguyễn Cường T7 giao nộp 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max màu xanh, số IMEI: 356616948493476.
- Lê Thị H2 giao nộp 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng, số IMEI: 354496520992647.
- Nguyễn Thị Kim H4 giao nộp hợp đồng kinh tế giữa Công ty TNHH V (mười bốn) hoá đơn GTGT của Công ty TNHH V xuất cho Công ty TNHH T10
- Khám xét Công ty Cổ phần C3 thu giữ: 01 (một) hợp đồng kinh tế giữa công ty V và Công ty cổ phần C3.
- Nguyễn Mạnh H5 giao nộp hợp đồng kinh tế giữa Công ty TNHH V và Công ty CP C3 (mười chín) hoá đơn GTGT của Công ty TNHH V xuất cho Công ty CP C3.
- Trần Văn T6 giao nộp 14 (mười bốn) hoá đơn của Công ty TNHH MTV C1 xuất cho Công ty TNHH V và 01 (một) điện thoại nhãn hiệu OPPO màu đen.
- Đỗ Xuân Q giao nộp 07 (bảy) hoá đơn của Công ty TNHH MTV C1 xuất cho Công ty TNHH V.
- Trần Thanh T1 giao nộp 01 (một) hoá đơn của Công ty TNHH MTV C1 xuất cho Công ty TNHH V.
* Xử lý vật chứng:
01 (một) con dấu tên công ty TNHH V, MST: 2802198911; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím của Nguyễn Ngọc M; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 15 Promax màu xanh của Nguyễn Cường T7; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng của Lê Thị H2; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A70 màu trắng của Nguyễn Thị H1 và 01 (một) điện thoại nhãn hiệu OPPO màu đen của Trần Văn T6. (Tất cả đồ vật tài liệu trên được chuyển đến Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thanh Hóa chờ xử lý theo quy định của pháp luật).
* Các vấn đề liên quan khác trong vụ án:
- Đối với Lê Văn N là Giám đốc Công ty TNHH N2, Nguyễn Anh T4 - Phó Giám đốc Công ty cổ phần C3 và Trương Thanh Q1 - Giám đốc, người đại diện cho Công ty TNHH T10 Quá trình điều tra xác định N, T4 và Q1 không biết việc nhân viên Công ty mua hóa đơn “khống” để kê khai đầu vào nên Cơ quan Điều tra không có căn cứ xử lý.
- Đối với Đào Thị Hương G - Trưởng phòng kinh doanh và Lê Thị Ngọc D là kế toán của Công ty cổ phần V1 và cung ứng xăng dầu quá trình giao dịch kinh tế với Công ty TNHH V không biết việc Nguyễn Mạnh H5 mua hóa đơn “khống” để hợp thức hàng hóa trôi nổi trên thị trường nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.
- Đối với Đỗ Xuân Q và Trần Thanh T1 đã có hành vi mua trái phép tổng số 08 hoá đơn GTGT của Công ty TNHH MTV C1 nhưng chưa đủ lượng để có căn cứ xử lý hình sự. Vì vậy, Cơ quan Cơ quan điều tra Công an thành phố T chuyển hồ sơ và tài liệu liên quan đến Chi cục thuế khu vực thành phố T - Đ để xử lý theo quy định pháp luật.
- Đối với Lại Xuân H6 và Lê Thị K không biết số hóa đơn GTGT mà T6, T1, Q mua trái phép của Công ty TNHH một thành viên C1 nên không có căn cứ xử lý.
- Đối với Vũ Thị T2 và Vũ Anh T3 là kế toán của Công ty TNHH T10 Được giám đốc và H4 giao nhiệm vụ cân đối hàng hóa, công nợ và nhận ủy nhiệm chi để thanh toán tiền mua hàng cho Công ty TNHH V, việc H4 mua trái phép hóa đơn GTGT T2 và T3 không biết nên Cơ quan Điều tra không có căn cứ xử lý.
* Bản án sơ thẩm số 264/2024/HS-ST ngày 17 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa đã tuyên:
Nguyễn Ngọc M phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn thu nộp ngân sách Nhà nước”. Áp dụng điểm d, đ khoản 2, khoản 3 Điều 203; Điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự (BLHS). Xử phạt Nguyễn Ngọc M 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt tiền bổ sung 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước. Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo khác không kháng cáo, xử lý vật chứng, nghĩa vụ thi hành án, án phí cũng như quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong hạn luật định, bị cáo Nguyễn Ngọc M có đơn kháng cáo với nội dung đề nghị cấp phúc thẩm xem xét áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung của Bản án sơ thẩm đã tuyên.
Cũng tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Thanh Hóa sau khi phân tích tính chất vụ án, nhân thân, hành vi phạm tội của các bị cáo cũng như tình tiết mới được bổ sung tại phiên tòa đã đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm đ khoản 1 Điều 357 BLTTHS chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc M, sửa phần hình phạt cấp sơ thẩm đã tuyên.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức được lỗi lầm, hứa không vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Xét về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 333 BLTTHS, nên đơn kháng cáo được coi là hợp pháp. Do vậy, HĐXX chấp nhận đơn của bị cáo để xem xét nội dung kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội cụ thể: Trong khoảng thời gian từ năm 2022 đến 2023, Trần Ngọc C là Giám đốc điều hành công ty TNHH MTV C1 đã chỉ đạo cho kế toán Nguyễn Thị H1 xuất bán 50 số hóa đơn GTGT cho Công ty TNHH V và Công ty TNHH N2 thu lợi bất chính 177.003.000đ (một trăm bảy mươi bảy triệu, không trăm lẻ ba nghìn đồng). Nguyễn Ngọc M, Giám đốc điều hành Công ty TNHH V đã chỉ đạo nhân viên là Lê Thị H2, Nguyễn Cường T7 và Lê Thị H3 thực hiện xuất bán trái phép 33 hóa đơn GTGT, thu lợi bất chính với tổng số tiền 1.022.523.600đ (một tỷ, không trăm hai hai triệu, năm trăm hai ba nghìn, sáu trăm đồng). Lê Thị H3, Lê Thị H2 và Nguyễn Cường T7 tham gia giúp cho Nguyễn Ngọc M bán trái phép 33 hóa đơn GTGT, trong đó Lê Thị H3 bán trái phép 14 hóa đơn GTGT. Lê Thị H2, Nguyễn Cường T7 và Lê Thị H3 không được hưởng tiền thu lợi bất chính. Ngoài ra trong vụ án còn có các bị cáo khác thực hiện hành vi mua, bán trái phép hoá đơn nhưng không kháng cáo như Nguyễn Văn H7 mua trái phép 19 hóa đơn GTGT, thu lợi bất chính số tiền 88.504.720đ (tám tám triệu, năm trăm lẻ bốn nghìn, bảy trăm hay mươi đồng). Nguyễn Thị Kim H4 đã mua trái phép 14 hóa đơn GTGT nhằm hợp thức nguồn gốc số hàng hóa đã mua. Trần Văn T6 mua trái phép 14 hóa đơn GTGT nhằm hợp thức nguồn gốc chi phí sửa chữa và bảo dưỡng xe. Viên Thị Kim T5 đã mua trái phép 10 hóa đơn GTGT nhằm hợp thức nguồn gốc số hàng hóa đã mua.
[2.1] Lời thừa nhận về hành vi phạm tội của bị cáo tại cấp phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo và các bị cáo khác tại cấp sơ thẩm và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được kiểm tra tại phiên tòa nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Mua bán trái phép hóa đơn thu nộp ngân sách Nhà nước” theo quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 203 BLHS. Cấp sơ thẩm đã xác định tội danh và khung hình phạt cho bị cáo là có căn cứ pháp luật.
[2.2] Tính chất vụ án là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực thuế, tài chính, gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước mà còn gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các tổ chức kinh tế. Trong thời gian qua, tình trạng các đối tượng lợi dụng chính sách của Nhà nước để thành lập các công ty nhằm mục đích mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước xảy ra nhiều ở các địa phương, gây bức xúc trong nhân dân. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo thì mới có tác dụng cải tạo, giáo dục và đáp ứng yêu cầu phòng chống tội phạm nói chung.
[3] Về nguyên nhân, điều kiện phạm tội của bị cáo:
Bị cáo nhận thức được việc mua bán trái phép hoá đơn GTGT là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi nên đã cố ý thức hiện hành vi phạm tội. Ngoài ra còn do công tác quản lý Nhà nước của các cơ quan quản lý thuế còn để xảy ra nhiều sai phạm trong thời gian dài nhưng qua công tác kiểm tra thuế chưa phát hiện được. Mặt khác việc quản lý Nhà nước về việc mua bán xăng, dầu chưa hiệu quả, vẫn để tình trạng xăng, dầu trôi nổi trên thị trường mà không có hoá đơn chứng từ hợp pháp dẫn đến các cá nhân, doanh nghiệp phải mua hóa đơn, chứng từ để thanh toán cũng như kê khai đầu vào.
[4] Xét kháng cáo được áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính, HĐXX nhận thấy:
[4.1] Bản án sơ thẩm đã đánh giá tính chất vụ án, hành vi phạm tội, cũng như xem xét đầy đủ về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ như: Chủ động lên làm việc với Cơ quan Điều tra tự thú, thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; Tự nguyện nộp lại một phần số tiền đã hưởng lợi bất chính; Tích cực tham gia trong các phong trào ủng hộ Quỹ phòng chống dịch Covid năm 2021; Hỗ trợ nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Nam và bà con huyện V, tỉnh Thanh Hóa; Hỗ trợ máy thở chức năng cao Elisa để phòng chống Covid cho bà con tại địa phương nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Các tình tiết giảm nhẹ này cấp sơ thẩm áp dụng là phù hợp với quy định của pháp luật. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4.2] Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, cụ thể: Đã nộp hết toàn bộ số tiền thu lợi bất chính còn lại là 522.523.600đ (năm trăm hai hai triệu, năm trăm hai ba nghìn, sáu trăm đồng) và 200.000đ (hai trăm nghìn đồng án phí hình sự sơ thẩm) tại Biên lai thu tiền số 0000835 ngày 27/9/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thanh Hoá. Hưởng ứng lời kêu gọi của Đ về vân động ủng hộ đồng bào khắc phục thiệt hại do cơn bão số 3 gây ra, bị cáo cùng công ty của mình đã tham gia ủng hộ số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) nên HĐXX cần áp dụng khi xem xét nội dung kháng cáo và hình phạt áp dụng đối với bị cáo.
[4.3] Về áp dụng hình phạt chính: HĐXX xét thấy bản thân bị cáo chưa vi phạm pháp luật lần nào, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu. Mặc dù bị thực hiện hành vi mua bán trái phép hóa đơn GTGT nhằm thu lợi bất chính, nhưng đã nhận thức được lỗi lầm, ăn năn hối cải, chủ động giao nộp lại toàn bộ số tiền đã thu lợi bất chính. Bị cáo và công ty của mình có nhiều đóng góp cho Nhà nước và xã hội. Bản thân có nơi cư trú rõ ràng, có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, có khả năng tự cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục và răn đe, xét không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với bị. HĐXX căn cứ nguyên nhân, mức độ, hành vi phạm tội, tính chất vụ án, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính theo quy định tại Điều 35 của BLHS như đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp, cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo đã bị áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên căn cứ Điều 32 BLHS, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về khoản thu lợi bất chính và trách nhiệm dân sự: Thông qua việc thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Nguyễn Ngọc M thu lợi bất chính là 1.022.523.600₫ (một tỷ, không trăm hai hai triệu, năm trăm hai ba nghìn, sáu trăm đồng). Đây là khoản tiền thu lợi bất chính, nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
[7] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, HĐXX nhận thấy kháng cáo xin được áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính của bị cáo Nguyễn Ngọc M là có cơ sở chấp nhận. Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là áp dụng Điều 357 của BLTTHS, chấp nhận kháng cáo của bị cáo là có căn cứ pháp luật.
[8] Án phí Hình sự sơ thẩm: Bị cáo đã nộp đủ.
[9] Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[10] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị HĐXX không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ: Điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điểm đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Chấp nhận kháng cáo xin áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính của bị cáo Nguyễn Ngọc M. Sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số 264/2024/HS-ST ngày 17 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa về hình phạt.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc M phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn thu nộp ngân sách Nhà nước”.
- Áp dụng: Điểm d, đ khoản 2 Điều 203; Điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt tiền: Bị cáo Nguyễn Ngọc M 400.000.000đ (bốn trăm triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
- Về khoản thu lợi bất chính và trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền bị cáo Nguyễn Ngọc M đã thu lợi bất chính, cụ thể là 1.022.523.600đ (một tỷ, không trăm hai hai triệu, năm trăm hai ba nghìn, sáu trăm đồng). Số tiền bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa theo các Biên lai thu tiền số 0000720 ngày 11/6/2024 và Biên lai thu tiền số 0000835 ngày 27/9/2024 được trừ vào số tiền bị cáo bị tịch thu (bị cáo đã nộp đủ).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo đã nộp đủ.
- Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Ngọc M không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Lê Quốc Thành |
Bản án số 183/2024/HS-PT ngày 27/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về mua bán trái phép hóa đơn thu nộp ngân sách nhà nước
- Số bản án: 183/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép hóa đơn thu nộp ngân sách Nhà nước
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc M phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn thu nộp ngân sách Nhà nước”
