TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 183/2024/HS-PT Ngày 20 tháng 11 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
-
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Giao
Các Thẩm phán: Bà Phan Thị Minh Tâm và ông Trương Văn Hai
- Thư ký phiên tòa: Ông Lý Trương Khang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Đinh Văn Hải – Kiểm sát viên
Ngày 20 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 2912024/TLPT-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thanh H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2024/HS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang:
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thanh H, sinh ngày 31/3/2003; nơi sinh: tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: tổ H, khóm T, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Nguyễn Văn Thanh T và bà Phan Mỹ P; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại (có mặt).
Trong vụ án còn có bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 31/10/2023, sau khi uống rượu, bia Nguyễn Văn Đ điện thoại kêu Nguyễn Thanh H chở đến quán C thuộc tổ A, khóm N, phường T, thị xã T của chị Phan Thị Thùy Q tìm bạn gái tên T1, được H đồng ý, một lúc sau H điều khiển xe mô tô biển số 67H8 – 9204 đến chở Đ mang theo 01 cây dao tự chế dài 77 cm. Khi đến quán, H ở ngoài còn Đ cầm dao tự chế vào kêu anh Nguyễn Văn P1 ra nói chuyện, nhưng anh P1 không đồng ý, thì Đ và H
bỏ đi qua quán C1 (cách đó khoảng 05 mét), Đ kêu H rủ thêm 02 người nữa quay lại quán Hoa M Giờ tìm anh P1 giải quyết mâu thuẫn, nên H điều khiển xe 67H8 – 9204 chở Nguyễn Văn T2, sinh ngày 06/7/2006 và Võ Minh T3, sinh ngày 17/7/2008 đến quán C1, rồi Đ kêu H đi mua cho Đ 01 lít xăng để Đ đốt quán Hoa M Giờ, H đồng ý và điều khiển xe 67H8 – 9204 đến cây xăng N mua 01 lít xăng để trong bọc nilon màu đen đưa cho Đ, rồi Đ kêu T3 và T2 đi về do không liên quan, nên H điều khiển xe 67H8 – 9204 chở T3 và T2 đi được một đoạn khoảng 20-50m, thì H dừng xe lại để T3 và T2 xuống xe, còn H điều khiển xe quay lại chỗ Đ.
Lúc này, Đ đứng trước quán C1 đang mặc ra, buộc một đầu tay áo khoác lại để bọc nilon có chứa xăng vào trong tay áo khoác, Đ để áo khoác xuống đường dùng bật lửa đốt cháy áo khoác, rồi Đ cầm phần cán cây dao tự chế bằng hai tay, dùng mũi dao nâng áo khoác đang cháy đi đến quán C, còn H điều khiển xe 67H8 – 9204 chạy theo mục đích chở Đ. Đến trước cửa quán C, Đ ném áo khoác đang cháy vào trong quán, thì trúng vào xe mô tô biển số 59X1 – 017.33 của anh Nguyễn Duy H1 dựng trước quán, làm cháy xe 59X1 – 017.33 của anh H1, Đ tiếp tục dùng dao tự chế chém vào bảng hiệu quán Hoa M Giờ làm hư hỏng, rồi H điều khiển xe 67H8 – 9204 chở Đ tẩu thoát.
Tại kết luận định giá tài sản số 2010/KL-HDĐG.TTHS ngày 01/11/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã T, xác định: Các bộ phận của xe mô tô, biển số 59X1 – 017.33, nhãn hiệu SUZUKI, màu sơn: Nâu – vàng, số máy F4 A5 – 171725, số khung: HOAO-108845, xe được đăng ký lần đầu ngày 09/02/2010, bị hư hỏng do bị cháy tổng giá trị tài sản: 5.587.000 đồng.
Bản kết luận định giá tài sản số 2114/KL-HDĐG.TTHS ngày 13/11/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã T, xác định: 01 bảng hiệu kích thước (1,2 x 80) cm, chất liệu bạt in màu, khung kim loại, bị hư hỏng tổng giá trị tài sản: 500.000 đồng
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2024/HS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện thị xã Tịnh Biên đã quyết định: Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 178; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh H 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Ngoài ra án sơ thẩm tuyên về mức hình phạt đối với bị cáo Đ, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 19/9/2024, bị cáo Nguyễn Thanh H làm đơn kháng cáo xin cho bị cáo được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ yêu cầu kháng cáo. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, lý do kháng cáo: hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình nuôi cha mẹ bị bệnh, bị cáo đã khắc phục hoàn toàn các thiệt hại cho bị hại.
Đại diện Viện kiểm sát thực hiện quyền công tố nhà nước tại phiên tòa phát biểu quan điểm về vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh H, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt
theo hướng giữ nguyên mức án 02 năm tù, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận; xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh H hợp lệ, kháng cáo trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận để xem xét giải quyết.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về nội dung: Quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thanh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan, đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Có đầy đủ căn cứ để xác định:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 31/10/2023, tại quán C Giờ của chị Phan Thị Thùy Q thuộc tổ A, khóm N, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang, bị cáo Nguyễn Văn Đ đã có hành vi dùng xăng đốt cháy xe mô tô biển số 59X1-017.33 của anh Nguyễn Duy H1 làm hư hỏng nhiều bộ phận, trị giá 5.587.000 đồng và dùng dao tự chế chém hư hỏng biển hiệu quán cà phê của chị Q, trị giá 500.000 đồng, riêng Nguyễn Thanh H có hành vi mua xăng cho Đ và dùng xe 67H8 – 9204 chạy theo, nhằm chở Đ tẩu thoát, các bị cáo đã làm hư hỏng tài sản của các bị hại tổng giá trị tài sản thiệt hại 6.087.000 đồng. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 178 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[5] Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, đồng thời còn ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người
phạm tội để xử phạt bị cáo mức án 02 năm tù là là có căn cứ, tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm mà bị cáo đã gây ra.
Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải; trước khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã nộp 4.087.000 đồng và sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo H đã nộp thêm 2.000.000 đồng, khắc phục xong hậu quả cho các bị hại; khi thực hiện cùng bị cáo Đ thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo H chỉ giúp sức, không phải là người trực tiếp thực hiện hành vi; bị cáo là lao động chính trong gia đình nuôi cha mẹ bị bệnh nặng có xác nhận của chính quyền địa phương, trong thời gian được cho tại ngoại, bị cáo đã chấp hành tốt chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú; bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự; có nơi cư trú rõ ràng; nếu không bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây không ảnh hưởng đến việc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và phù hợp với tinh thần nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Như vậy, yêu cầu kháng cáo của bị cáo và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Án phí: yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Thanh H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[7] Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh H, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 64/2024/HS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 178; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thanh H cho Ủy ban nhân dân phường N, thị xã T, tỉnh An Giang giám sát giáo dục trong thời thời gian thử thách.
(Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi
hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo).
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo không phải chịu phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo)
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Giao |
Bản án số 183/2024/HS-PT ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 183/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý làm hư hỏng tài sản
