Hệ thống pháp luật
Bản án Ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NHA TRANG

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 183/2024/HNGĐ-ST

Ngày 24-9-2024

“V/v ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Hồng Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Phương

Ông Phạm Đình Tuyến

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Minh Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Bích Hương – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 887/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 90/2024/HPT-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thúy Q, sinh năm: 1992
  • Địa chỉ: Thôn L, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • - Bị đơn: Ông Phan Văn K, sinh năm: 1987
  • Hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
  • Chỗ ở hiện nay: Thôn V, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện đề ngày 27/6/2023 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thúy Q trình bày:

Bà và ông Phan Văn K kết hôn với nhau là hoàn toàn tự nguyện, vợ chồng bà đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, thành phố N vào năm 2011. Thời gian đầu vợ chồng bà chung sống hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn do ông K thay đổi tính tình, thường xuyên nhậu nhẹt, say xỉn rồi về nhà chửi mắng, đánh đập vợ con. Bà đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng ông K vẫn không chịu thay đổi. Hiện nay bà và ông K không còn sống chung với nhau nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu ly hôn với ông K.

Về con chung: Bà và ông Phan Văn K có hai con chung là Phan Nguyễn Cát T, sinh ngày: 14/6/2012 và Phan Nguyễn Cát N, sinh ngày: 13/7/2017. Bà có nguyện vọng được nuôi hai con, không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Phan Văn K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không lý do; do đó, Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai của bị đơn cũng như không tiến hành hòa giải được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Thúy Q được ly hôn ông Phan Văn K. Về con chung, giao các cháu Phan Nguyễn Cát T, sinh ngày: 14/6/2012 và Phan Nguyễn Cát N, sinh ngày: 13/7/2017 cho bà Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Về cấp dưỡng, bà Q không yêu cầu nên không đề nghị xem xét. Về tài sản chung và nợ chung, bà Q không yêu cầu nên đề nghị không xem xét. Về án phí, bà Q phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về thủ tục tố tụng:
    Bà Nguyễn Thị Thúy Q có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết về việc ly hôn với ông Phan Văn K. Ông K có địa chỉ cư trú tại thành phố N, tỉnh Khánh Hòa nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
    Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thúy Q có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Phan Văn K đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại các Điều 227, 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Về quan hệ hôn nhân:
    Bà Nguyễn Thị Thúy Q và ông Phan Văn K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã V, thành phố N và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 55/2011, quyển số 01/2011, ngày 25/4/2011 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật.
    Theo lời khai của bà Q, thời gian đầu vợ chồng bà chung sống hạnh phúc, sau đó thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do ông K thay đổi tính tình, thường xuyên nhậu nhẹt, say xỉn rồi về nhà chửi mắng, đánh đập vợ con. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ ông K đến Tòa làm việc nhưng ông K vẫn vắng mặt không có lý do, chứng tỏ ông K không có thiện chí đoàn tụ gia đình với bà Q. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà Q và ông K đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị ly hôn của bà Q là chính đáng, có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
  3. Về con chung:
    Bà và ông Phan Văn K có hai con chung là Phan Nguyễn Cát T, sinh ngày: 14/6/2012 và Phan Nguyễn Cát N, sinh ngày: 13/7/2017. Bà Q có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung. Hội đồng xét xử nhận thấy hiện nay bà Q là người trực tiếp nuôi dưỡng các con chung. Các cháu Phan Nguyễn Cát T và Phan Nguyễn Cát N cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Do đó, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con chung phát triển toàn diện và được sống ổn định nên giao hai cháu Phan Nguyễn Cát T và Phan Nguyễn Cát N cho bà Q tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành là phù hợp.
  4. Về cấp dưỡng: Bà Q không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  5. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Q xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  6. Về án phí: Bà Q phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  7. Xét về quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thúy Q.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thúy Q được ly hôn ông Phan Văn K.
  2. Về con chung: Giao hai con chung là Phan Nguyễn Cát T, sinh ngày: 14/6/2012 và Phan Nguyễn Cát N, sinh ngày: 13/7/2017 cho bà Nguyễn Thị Thúy Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.
    Ông Phan Văn K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Đồng thời, có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi dưỡng.
  3. Về cấp dưỡng: Bà Nguyễn Thị Thúy Q không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
    Vì lợi ích của con chung, nếu xét thấy cần thiết bà Q và ông K đều có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như cấp dưỡng nuôi con chung.
  4. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thúy Q xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
  5. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thúy Q phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0000020 ngày 04 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Bà Q đã nộp đủ án phí.
    Quy định: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thúy Q, bị đơn ông Phan Văn K vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND thành phố Nha Trang;
  • - Chi cục THADS thành phố Nha Trang;
  • - UBND xã Vĩnh Lương, thành phố Nha Trang (Giấy chứng nhận kết hôn số 55/2011, quyển số 01/2011, ngày 25/4/2011);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Thị Hồng Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 183/2024/HNGĐ-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn

  • Số bản án: 183/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger