Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 183/2024/HNGĐ-ST

Ngày 12/7/2024

“V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hường.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Tâm

Bà Nguyễn Thị Phú

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Như Ý - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Anh - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 142/2024/TLST-HNGĐ ngày 06/6/2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 138/2024/QĐ-ST ngày 25/6/2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1979 (Xin vắng mặt)

HKTT: thôn T, xã C, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

Hiện đang sinh sống tại: Số F đường Q, quận D, thành phố C, Đài Loan.

- Người đại diện nhận văn bản tố tụng: Chị Ngô Thị Minh T, sinh năm 1993; địa chỉ: thôn L, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

* Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1979 (Xin vắng mặt)

Địa chỉ: thôn T, xã C, huyện T, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn là anh Nguyễn Văn C trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị T1 kết hôn với nhau ngày 21/10/2003 và đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện T. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Từ năm 2011 anh đi nước ngoài lao động, từ đó giữa vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn và mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã xa nhau và sống ly thân từ đó đến nay. Đến nay anh và chị T1 đã không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị T1.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Ngọc M, sinh ngày 16/6/2004 và cháu Nguyễn Đức Đ, sinh ngày 19/6/2009. Hiện nay cháu M đã trưởng thành nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Còn cháu Đ hiện nay đang ở với chị T1 nên để ổn định cuộc sống của cháu Đ, khi ly hôn anh đề nghị Tòa án giao cháu Đ cho chị T1 nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con tự thoả thuận nên không đề nghị Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung: không đề nghị Tòa án giải quyết trong vụ án này.

- Về nợ chung: không có nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết trong vụ án này.

* Bị đơn chị Nguyễn Thị T1 trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn C kết hôn với nhau ngày 21/10/2003 và đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện T. Từ năm 2011 anh C đi nước ngoài lao động nên đã phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã xa nhau, không quan tâm đến nhau và sống ly thân từ đó đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đồng ý ly hôn với anh C.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Ngọc M, sinh ngày 16/6/2004 và cháu Nguyễn Đức Đ, sinh ngày 19/6/2009. Hiện nay cháu M đã trưởng thành nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Còn cháu Đ hiện nay đang ở với chị nên đề nghị Tòa án giao Đ cho chị nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con tự thoả thuận nên không đề nghị Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung: không đề nghị Tòa án giải quyết trong vụ án này.

- Về nợ chung: không có nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết trong vụ án này.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, anh C và chị T1 xin vắng mặt và giữ nguyên ý kiến. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn, bị đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 161, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn C. Xử:

Về quan hệ hôn nhân: anh Nguyễn Văn C được ly hôn chị Nguyễn Thị Tuyết .

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đức Đ cho chị Nguyễn Thị T1 trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Về việc cấp dưỡng không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và công nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: anh Nguyễn Văn C phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm và 4.000.000đồng chi phí giám định vân tay.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tính hợp pháp của các văn bản, tài liệu anh Nguyễn Văn C gửi từ nước ngoài đến Tòa án: Do Đơn khởi kiện, B tự khai, Giấy ủy quyền và đơn xin giải quyết vắng mặt của anh C gửi đến Tòa án không có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền tại nước ngoài. Tòa án trưng cầu giám định dấu vân tay của anh C trong các tài liệu gửi đến Tòa án. Tại kết luận giám định số 1376/KL-KTHS ngày 25/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận: Dấu vân tay màu đỏ in trên các tài liệu cần giám định so với dấu vân tay trên Chỉ bản số [...] mang tên Nguyễn Văn C, sinh năm 1979 do Phòng C1 về TTXH - Công an tỉnh B cung cấp là của cùng một người. Do đó, có căn cứ xác định anh Nguyễn Văn C là người ký và lập các giấy tờ “Đơn khởi kiện, Bản tự khai, Giấy ủy quyền và đơn xin giải quyết vắng mặt” gửi đến Tòa án. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận tính hợp pháp của các văn bản, tài liệu này để giải quyết vụ án.

[2]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Nguyễn Văn C là người Việt Nam có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với chị Nguyễn Thị Tuyết . Tại thời điểm giải quyết vụ án, anh C đang ở nước ngoài và anh về nước ngày 18/6/2024. Căn cứ công văn số: 13453/QLXNC-P3 ngày 25/6/2024 của Cục Q - Bộ C2 thì anh Nguyễn Văn C đã xuất cảnh ra nước ngoài ngày 22/6/2024, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Bị đơn chị Nguyễn Thị T1 có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bắc Giang. Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do nguyên đơn anh Nguyễn Văn C được xác định là đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Anh C và chị T1 có đơn xin xét xử vắng mặt. HĐXX thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng quá trình giải quyết vụ án. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn C và chị Nguyễn Thị T1 kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 21/10/2003 tại UBND xã C, huyện T nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn anh C xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn với chị T1. Xem xét đơn khởi kiện của anh C, HĐXX thấy: Sau khi kết hôn cuộc sống hôn nhân thời gian đầu hạnh phúc nhưng sau đó vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm không hòa hợp được. Anh C đi nước ngoài từ năm 2011, vợ chồng xa cách và sống ly thân từ đó đến nay, không quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Chị T1 cũng xác định vợ chồng không còn tình cảm và đồng ý ly hôn. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa anh C và chị T1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh C, xử cho anh C được ly hôn với chị T1.

[4]. Về nuôi con chung: Đối với cháu Nguyễn Thị Ngọc M, sinh năm 2004 hiện đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết. Đối với cháu Nguyễn Đức Đ, sinh ngày 19/6/2009 hiện đang ở cùng chị T1. Cả anh C và chị T1 đều thống nhất giao cháu Đ cho chị T1 nuôi dưỡng. Căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, cần giao cháu Đ cho chị T1 được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con chung các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[5]. Về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự không đề nghị nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[6]. Về chi phí tố tụng: Căn cứ Điều 161 Bộ luật tố tụng dân sự, anh Nguyễn Văn C phải chịu chi phí giám định vân tay 4.000.000đồng. Xác nhận anh C đã nộp xong.

[7]. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc anh Nguyễn Văn C phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

[8]. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 161, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn C.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn C được ly hôn chị Nguyễn Thị Tuyết .
  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đức Đ, sinh ngày 19/6/2009 cho chị Nguyễn Thị T1 trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
  3. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết.

    Sau khi ly hôn, anh C không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

  4. Về chi phí tố tụng: Anh Nguyễn Văn C phải chịu chi phí giám định vân tay 4.000.000đồng. Xác nhận anh C đã nộp xong.
  5. Về án phí: Anh Nguyễn Văn C phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001236 ngày 06/6/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
  6. Về quyền kháng cáo:
    • - Anh Nguyễn Văn C hiện đang cư trú ở nước ngoài, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
    • - Chị Nguyễn Thị Tuyết cư t tại Việt Nam, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp Cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang
  • - UBND xã Cao Xá, huyện Tân Yên;
  • - Cổng thông tin điện tử TANDTC;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Hoàng Thị Hải Hường

THÀNH VIÊN

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN -

CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 183/2024/HNGĐ-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 183/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cảnh ly hôn Tuyết
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger