|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 183/2024/HNGĐ-ST Ngày: 03/12/2024 V/v "Tranh chấp ly hôn " |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Bảo Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Long
Bà Nguyễn Thị Mai Phượng
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Phong Lan - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Bùi Trung Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 18/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 199/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bé T, sinh năm 1992
Địa chỉ: ấp L, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: Ông Jang J, sinh năm 1980
Địa chỉ: # 271 Y-ri, Bian-myeon, Euiseong-gun, G-do, K (Hàn Quốc).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bé T trình bày và yêu cầu:
Thông qua giới thiệu của người quen, bà và ông Jang J tìm hiểu nhau và tiến đến hôn nhân vào năm 2010. Bà và ông Jang J đăng ký kết hôn tại Hàn Quốc và có đăng ký ghi chú vào Sổ hộ tịch việc kết hôn tại Sở tư pháp thành phố Cần Thơ số: 35 ngày 28/01/2011 (theo Trích lục Ghi chú kết hôn số: 16/TLGCKH-BS ngày 17/01/2024).
Sau khi kết hôn, ông Jang J bảo lãnh bà sang Hàn Quốc sinh sống, đoàn tựu và xây dựng hạnh phúc. Thời gian đầu tình, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng về sau phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, ngôn ngữ, thiếu sự quan tâm của ông Jang J đối với bà dẫn đến tình cảm vợ chồng cũng dần rạn nứt. Năm 2017, bà và ông Jang J không còn chung sống và cũng không liên lạc với nhau, giữa hai người chính thức ly thân kể từ đó. Bà trở về Việt Nam sinh sống đến nay và không có liên lạc gì với ông Jang J. Vì những lý do trên, bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Jang J.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Trong thời gian chung sống, bà và ông Jang J không có con chung, tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn là ông Jang J vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không thu thập được ý kiến của ông.
Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tại phiên tòa: những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, do hai bên bất đồng quan điểm, thời gian ly thân kéo dài, hai bên không còn liên lạc gì với nhau, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án chấp nhận cho bà Nguyễn Thị B Tân được ly hôn với ông Jang J.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Bé T khởi kiện xin ly hôn với ông Jang J cư trú tại Hàn Quốc nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 37 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bà Nguyễn Thị Bé T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, còn ông Jang J đã được Tòa án tống đạt thông báo hợp lệ về thời gian mở phiên tòa nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do. Vì vậy, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là có căn cứ.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Bé T và ông Jang J chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Hàn Quốc và có đăng ký ghi vào Sổ hộ tịch việc kết hôn số: 35 ngày 28/01/2011 tại Sở tư pháp thành phố Cần Thơ theo Trích lục ghi chú kết hôn số: 16/TLGCKH-BS ngày 17/01/2024 nên xác định là hôn nhân hợp pháp.
Theo bà B T trình bày, sau khi kết hôn, ông Jang J bảo lãnh bà sang Hàn Quốc cùng sinh sống, đoàn tựu. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng về sau phát sinh mâu thuẩn do bất đồng quan điểm, ngôn ngữ, ông Jang J thiếu sự quan tâm đối với bà, làm cho tình cảm vợ chồng rạn nứt. Đến năm 2017, bà và ông Jang J không còn chung sống, bà trở về Việt Nam và hai người không còn liên lạc với nhau. Xét thấy, giữa bà B T và ông Jang J đã có thời gian dài sống ly thân, mỗi người ở một quốc gia, không quan tâm liên lạc gì với nhau nên tình cảm thật sự phai nhạt, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho bà B T được ly hôn với ông Jang J là phù hợp theo quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà Bé T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, nếu có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác khi có yêu cầu.
[4] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng và lệ phí ủy thác, chi phí thông báo tố tụng, nguyên đơn phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 153, khoản 2 Điều 227, khoản 6 Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bé T.
- - Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Bé T được ly hôn với ông Jang J.
- - Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Bé T trình bày không có nên không xem xét giải quyết.
- Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Bé T phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm bà Bé T đã nộp theo Biên lai thu số 0000199 ngày 25 tháng 01 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ, bà Bé T đã nộp đủ tiền án phí.
- Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị Bé T phải chịu 200.000 đồng lệ phí ủy thác tư pháp nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp 200.000 đồng theo Biên lai thu số 0000290 ngày 26/3/2024 của Cục thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Bà B T còn phải chịu chi phí đăng thông báo tố tụng cho Jang J. Bà Bé T đã nộp đủ chi phí tố tụng.
- Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Bé T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết; Ông Jang J được quyền kháng cáo trong hạn 30 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm theo luật định./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Bảo Anh |
Bản án số 183/2024/HNGĐ-ST ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 183/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Châp nhận khởi kiện
