TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH ĐỒNG NAI | Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 183/2024/DS-PT
Ngày: 10/7/2024
V/v: “Tranh chấp thanh toán công sức
nuôi dưỡng, phụng dưỡng người để lại di sản
thừa kế và công sức bảo quản, giữ gìn, tôn tạo
làm tăng giá trị quyền sử dụng đất đối với di sản
thừa kế".
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Phương Đông.
Các Thẩm phán: Ông Trần Phương Đông
Ông Vũ Thế Phương
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị L - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 156/2024/TLPT-DS ngày 20 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp thanh toán công sức nuôi dưỡng, phụng dưỡng người để lại di sản thừa kế và công sức bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị quyền sử dụng đất đối với di sản thừa kế”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2023/DS-PT ngày 31/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/2024/QĐPT-DS ngày 20 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 461 /2024/QĐPT-DS ngày 19/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Thanh V, sinh năm 1962. Địa chỉ: Số G, tổ I, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
- Bị đơn: Ông Huỳnh Văn N, sinh năm 1957; Địa chỉ thường trú: Ấp H, xã N, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Địa chỉ liên lạc: Ấp E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (có mặt).
Ông Huỳnh Văn L1, sinh năm 1966. Địa chỉ: Số A, đường T, Tổ I, Khu phố E, Phường C, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).
- Người đại diện theo uỷ quyền của ông N: Bà Đinh Thị Thúy H, sinh năm 1984. Địa chỉ: Ấp B, xã N, H . T, tỉnh Đồng Nai (Theo giấy uỷ quyền ngày 10/7/2023 – có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Kim A (Đã mất).
Người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bà A:
- Ông Lê Thành T, sinh năm 1956. Địa chỉ: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
- Bà Lương Thị P, sinh năm 1959. Địa chỉ: Ấp B, xã T, thành phố H (trước đây là huyện H), tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
- Bà Lê Thị E, sinh năm 1942. Địa chỉ: Số C, tổ A, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Bà Huỳnh Thị Kim G, sinh năm 1956 (Tên gọi khác: Diếng). Địa chỉ: Số G, tổ I, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
- Bà Lê Thị L2, sinh năm 1945. Địa chỉ: Số B, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
Bà G, bà L2 uỷ quyền cho ông L1 làm đại diện theo giấy uỷ quyền ngày 19/12/2023.
- Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai (có Đơn xin xét xử vắng mặt).
- Ông Mai Xuân Đ, sinh năm 1962. Địa chỉ: Số G, tổ I, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
Ông Đ uỷ quyền cho bà V làm người đại diện theo giấy uỷ quyền ngày 14/12/2023.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo Bản án sơ thẩm:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 04/4/2023, các đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung đề các ngày 11/5/2023, 01/6/2023 và 01/7/2023; bản tự khai, quá trình làm việc và tại phiên toà, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thanh V trình bày:
Cha mẹ ruột của bà là cụ ông Huỳnh Văn H1, sinh năm 1923 (mất năm 2008) và cụ bà Tạ Liềm H2, sinh năm 1923 (mất ngày 24/5/2015), trước khi chết có 04 người con ruột gồm bà, bà Huỳnh Thị Kim G, ông Huỳnh Văn N và ông Huỳnh Văn L1; ngoài ra, hai cụ không còn con ruột, con nuôi hay con ngoài giá thú nào khác. Trước khi chung sống với cụ H1, cụ H2 có chồng là liệt sỹ cụ ông Lê Văn Đ1 (mất năm 1947) có với nhau 03 người con ruột gồm bà Lê Thị Kim A1 (mất năm 1984, có chồng là ông Lương Văn T1 (mất năm 2000) có với nhau 02 con là ông Lê Thành T, sinh năm 1956 và bà Lương Thị P, sinh năm 1959), bà Lê Thị L2, sinh năm 1945 và bà Lê Thị E, sinh năm 1942. Ngoài ra, cụ H2 không còn chung sống với ai khác và cũng không còn con ruột, con nuôi hay con ngoài giá thú nào khác. Cha mẹ của các cụ H1, Đ1, H2 đã mất từ lâu do tuổi già.
Khi còn sống, cụ H2 sinh sống cùng bà và các anh em tại căn nhà đất thuộc thửa đất số 24 (thửa tạm là 24A), tờ bản đồ số 47 có diện tích 349,6 m² toạ lạc tại: Số G, tổ I, khu phố H (trước đây là khu phố H), thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai từ năm từ khi nhỏ đến trước khi bà lập gia đình. Sau khi lập gia đình, bà có đi làm ăn xa nhưng vẫn tỉnh thoảng thường xuyên về chơi, thăm, sinh sống cụ H2 tại căn nhà trên. Đến năm 2010, cụ H2 già yếu, bị té, rồi bệnh dẫn đến đi lại, sinh hoạt khó khăn nên bà và chồng bà là ông Mai Xuân Đ về căn nhà đất trên sinh sống và chăm sóc cụ H2 từ đó cho tháng 5/2015, cụ mất do bệnh. Trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến trước lúc cụ H2 mất, bà là người trực tiếp bỏ công sức, thời gian, tiền bạc để chăm sóc, nuôi dưỡng, phụng dưỡng cụ H2 cho đến khi mất; các anh chị em còn lại không có phụ giúp, hỗ trợ gì để chăm sóc cụ mà thỉnh thoảng 01 đến 02 tháng, có ông L1, bà G, bà L2, mỗi người ghé thăm và đưa cho bà 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng để mua đồ ăn, thức uống cho cụ. Đối với công sức nuôi dưỡng, phụng dưỡng cụ H2 trong thời gian này, bà không nhớ mỗi tháng bỏ ra bao nhiêu tiền, công sức như thế nào, mà chỉ nhớ gia đình bà ăn uống gì thì cụ H2 ăn uống đó nên không có tài liệu, chứng cứ chứng minh nhưng địa phương, hàng xóm xung quanh nhà đều biết.
Trước khi mất, cụ H2 có để lại di sản là căn nhà đất trên. Căn nhà trên đất này gồm căn nhà do cụ H2 xây dựng và sau này có thêm 02 phòng do bà G xây dựng, bà và ông Đ không có xây dựng mới nhà cửa, công trình gì trên đất mà có đứng ra tôn tạo là sửa chữa mương nước, cống rãnh, mảng nền sân, hàng rào, mái hiên...vv nhiều lần; hiện trạng nhà đất không có gì thay đổi so với lúc Toà án đi xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc, thẩm định giá trong vụ án năm 2019 mà ông N khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế cụ H2 để lại và đã được Toà án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai giải quyết, xét xử bằng Bản án số 16 ngày 30/8/2022 phân chia xong di sản cụ để lại và hiện nay đã có hiệu lực pháp luật, đang được cơ quan thi hành án thi hành. Trước khi được chia theo bản án, từ năm 2010 cho đến nay, bà và ông Đ là người giữ gìn, bảo quản di sản cụ H2 để lại trên. Đối với việc bà và ông Đ có tôn tạo là sửa chữa mương nước, cống rãnh, mảng nền sân, hàng rào, mái hiên...vv nhiều lần nhưng không xác định được đã bỏ ra bao nhiêu tiền bạc, công sức, thời gian và do việc tôn tạo, sửa chữa này không phải là công trình lớn nên không có lưu giữ hoá đơn, tài liệu, chứng cứ để chứng minh nên không cung cấp được cho Toà án nhưng địa phương, hàng xóm xung quanh nhà đều biết. Còn công sức bà làm tăng thêm giá trị quyền sử dụng đất đối với di sản thừa kế cụ H2 để lại mà ông N, ông L1 đã được thụ hưởng, đó là bà đã giữ gìn, bảo quản nhà cửa từ năm 2010 cho đến nay, bà và ông Đ không xác định được đã bỏ ra bao nhiêu tiền bạc, công sức và cũng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh nhưng địa phương, hàng xóm xung quanh nhà đều biết.
Nay, bà người khởi kiện ra Toà án yêu cầu buộc ông Huỳnh Văn N, ông Huỳnh Văn L1 có trách nhiệm liên đới trả cho bà hai khoản như sau:
- Công sức bà nuôi dưỡng, phụng dưỡng cụ H2 từ năm 2010 cho đến khi cụ H2 mất tháng 5/2015, tương đương một kỷ phần thừa kế được hưởng là 287.764.000 đồng.
- Công sức bà bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng thêm giá trị quyền sử dụng đất đối với di sản thừa kế cụ H2 để lại mà ông N, ông L1 đã được thụ hưởng, công sức này cũng tính từ năm 2010 cho đến tháng 5/2015, tương đương một kỷ phần thừa kế được hưởng là 287.764.000 đồng.
Tổng cộng hai khoản yêu cầu là 575.582.000 đồng, thay đổi so với yêu cầu khởi kiện ban đầu là 287.764.000 đồng.
- Bà không nhận tiền mặt mà xin nhận hiện vật là một phần đất thuộc di sản thừa kế cụ H2 để lại có diện tích 100 m², ngang 5m, dài 20m thuộc một phần thửa đất số 24 (thửa tạm là 24A), tờ bản đồ số 47 có diện tích 349,6 m² toạ lạc tại: Số G, tổ I, khu phố H (trước đây là khu phố H) nhằm bảo đảm chỗ ở cho bà và gia đình và đồng ý thanh toán lại giá trị di sản cho các đồng thời kế khác theo quy định pháp luật.
Đối với chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.000.000 đồng, bà đã nộp và xác định không yêu cầu, có ý kiến đối với chi phí này. Ngoài ra, bà không có yêu cầu, ý kiến và cũng không có cung cấp chứng cứ, tài liệu gì thêm.
Theo bản tự khai, quá trình làm việc và tại phiên toà, bị đơn ông Huỳnh Văn L1 trình bày:
Ông thống nhất với phần trình bày của bà V về mối quan hệ huyết thống, hàng thừa kế của cụ H2 và di sản cụ H2 để lại. Khi còn sống, cụ H2 sinh sống cùng các anh em ông tại căn nhà đất thuộc thửa đất số 24 (thửa tạm là 24A), tờ bản đồ số 47 có diện tích 349,6 m² toạ lạc tại: Số G, tổ I, khu phố H (trước đây là khu phố H), thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai từ nhỏ cho đến trước khi các anh em lập gia đình. Khi cụ H2 già yếu, bệnh tật, bà G là người trực tiếp chăm sóc, còn bà L2 là người trực tiếp đưa cơm nước đến nuôi dưỡng cùng bà G, còn ông, ông N, bà V lập gia đình, phải lo làm ăn, sinh sống nên không chăm sóc được cụ. Đến đầu năm 2015, sức khỏe cụ H2 đã yếu, ốm đau, bệnh tật thường xuyên nên các anh em gồm ông, ông N, bà G, bà L2 bàn bạc bằng miệng, mỗi tháng mỗi người góp 1.000.000 đồng đưa cho bà V đứng ra sử dụng số tiền này để trông nôm, trả tiền trong nôm cụ H2, còn tiền thuốc, ăn uống, sinh hoạt khác...vv của cụ do bà G, bà L2 trả cho đến khi cụ mất vào tháng 05/2015. Bà V trình bày từ năm 2010 đến trước lúc cụ H2 mất vào tháng 05/2015, bà V là người trực tiếp bỏ công sức, thời gian, tiền bạc để chăm sóc, nuôi dưỡng, phụng dưỡng cụ H2 cho đến khi mất; các anh chị em còn lại không có phụ giúp chăm sóc mà thỉnh thoảng chỉ ghé đưa cho bà V 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng để mua đồ ăn cho cụ H2 không đúng vì bà V chỉ đứng ra đại diện anh em trông nôm cụ H2 từ đầu 2015 cho đến khi cụ H2 mất vào tháng 05/2015 theo sự bàn bạc giữa các anh em; còn từ năm 2010 và sau khi cụ H2 mất, bà V bỏ đi làm ăn cùng chồng con, không còn sinh sống ở địa phương nữa. Trước đó, bà V cũng không hề nuôi dưỡng, phụng dưỡng cụ H2 được thời gian nào.
Trước khi mất mẹ cụ H2 có để lại di sản là căn nhà đất nêu trên. Căn nhà trên đất này gồm căn nhà do cụ H2 xây dựng và có thêm 02 phòng do bà G xây dựng, bà V và chồng bà V không có tôn tạo, sữa chữa, xây dựng mới nhà cửa, công trình gì trên đất; hiện trạng nhà đất không có gì thay đổi so với lúc Toà án đi xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc trong vụ án năm 2019 mà ông N khởi kiện tại Toà án yêu cầu chia di sản thừa kế cụ H2 để lại nêu trên và đã được Toà án giải quyết, xét xử bằng bản án số 16 ngày 30/8/2022 phân chia xong di sản cụ H2 để lại và hiện nay đã có hiệu lực pháp luật, đang được cơ quan thi hành án thi hành. Trước khi được chia theo bản án, từ năm 2019 cho đến năm 2022, bà G là người đứng ra trực tiếp quản lý, sinh sống và trông nôm, quản lý di sản mà cụ H2 để lại; bà V khi đó, đi làm ăn ở Bình Dương, không có mặt tại địa phương; đến cuối tháng 11/2020, Toà án có triệu tập bà V đến Toà án làm việc, bà V mới về sinh sống tại căn nhà cụ H2 để lại. Bà V và ông Đ không hề có công sức giữ gìn, bảo quản, tôn tạo làm tăng thêm giá trị quyền sử dụng đất đối với di sản thừa kế cụ H2 để lại như bà V trình bày.
Nay, đối với yêu cầu khởi kiện của bà V, ông hoàn toàn không đồng ý vì nội dung vụ án và yêu cầu khởi kiện của bà V trình là hoàn toàn vô lý, không có căn cứ; ngoài ra, bà V đã được chia một kỷ phần di sản cụ H2 để lại, vì vậy, ông không có trách nhiệm gì về vấn đề khởi kiện của bà V.
Ngoài ra, ông không có yêu cầu phản tố hay yêu cầu gì cũng không cung cấp chứng cứ, tài liệu gì và đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Theo bản tự khai, quá trình làm việc và tại phiên toà, bị đơn ông N và người đại diện theo uỷ quyền của ông N là bà H cùng thống nhất trình bày:
Ông bà thống nhất với phần trình bày của ông L1, chỉ bổ sung thêm là năm 2019, ông N khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế cụ H2 để lại, bà V khi đó đi làm ăn ở Bình Dương, không có mặt tại địa phương; đến cuối tháng 11/2020, Toà án có triệu tập bà V đến Toà án làm việc, bà V mới về sinh sống tại căn nhà cụ H2 để lại. Theo bản án số 16 ngày 30/8/2022, bà V và ông Đ đã xác định không có công sức gì về việc nuôi dưỡng, phụng dưỡng cụ H2 và giữ gìn, bảo quản, tôn tạo làm tăng thêm giá trị quyền sử dụng đất đối với di sản thừa kế cụ H2 để lại và cũng không có yêu cầu xem xét đối với các công sức này. Vì vậy, đối với yêu cầu khởi kiện của bà V, ông bà hoàn toàn không đồng ý. Ông bà xác định không có yêu cầu phản tố hay yêu cầu gì khác và không cung cấp chứng cứ, tài liệu gì cho Toà án và đề nghị giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Theo bản tự khai, quá trình làm việc và tại phiên toà, đại diện theo uỷ quyền của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà G, bà L2 là ông L1 trình bày:
Bà G, bà L2 thống nhất với phần trình bày của ông L1, không bổ sung hay có ý kiến gì thêm và xác định trong vụ án này, không có yêu cầu độc lập, hay yêu cầu gì khác và không cung cấp chứng cứ, tài liệu gì cho Toà án và đề nghị giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
- Người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà A1 là ông Lê Thành T và bà Lương Thị P trình bày:
Do ông bà có đơn xin vắng mặt nên ghi nhận ý kiến qua bản tự khai ngày 20/7/2023 như sau: Các ông bà là cháu của ông N, ông L1, bà V, gọi ông L1, ông N là cậu, bà V là dì. Ông ngoại của ông bà là cụ Lê Văn Đ1 (đã hy sinh năm 1947 trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp), bà ngoại ông bà là cụ Tạ Liềm H2 (sinh năm 1923, mất năm 2015), có 03 người con chung gồm mẹ ông bà là bà Lê Thị Kim A1 (sinh năm 1940, năm 1984 do bệnh chết thì gia đình không có khai tử nên không có giấy chứng tử để cung cấp cho Toà án, bà A1 có 02 con gồm ông Lê Thành T, sinh năm 1956 và bà Lê Thị P1, sinh năm 1959), Lê Thị E, sinh năm 1942 và Lê Thị L2, sinh năm 1945. Ông Đ1 và cụ H2 chung sống tới khi ông Đ1 hy sinh. Sau đó, cụ H2 chung sống với ông Huỳnh Văn H1 (sinh năm 1923, mất năm 2008) nhưng chung sống vào thời gian nào thì ông bà không biết.
Cha mẹ của bà Tạ Liềm H2 thì ông bà không biết họ tên, do họ đã chết từ rất lâu trong thời kỳ chiến tranh.
Cụ H1 và cụ H2 sinh được 04 người con gồm: Bà Huỳnh Thị Kim G, (Tên thường gọi là S), sinh năm 1956; địa chỉ: Số G, tổ I, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; ông Huỳnh Văn N, sinh năm 1957, địa chỉ: Ấp E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; ông Huỳnh Văn L1, sinh năm 1966, địa chỉ: khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Cụ H1 và cụ H2 không có cha mẹ nuôi, không có con nuôi và không có ai sinh sống ở nước ngoài.
Về di sản do cụ H2 để lại có thửa đất số 24 (diện tích 349,6 m², trong đó có 250 m² đất thổ cư và 99,6 m² đất trồng cây hàng năm) thuộc tờ bản đồ số 47 toạ lạc tại khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Thửa đất này đã được UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V250871 ngày 06/5/2002 đứng tên cụ H2. Ngoài, ra cụ H2 không còn di sản nào khác và khi chết không để lại di chúc.
Về nhà trên đất: năm 1980, ông bà lên thị trấn Đ thăm bà ngoại thì thấy bà ngoại ở trong căn nhà nền đất, vách tôn, thiếc củ, mái tôn thiếc cũ, cột gỗ tròn nhưng nhà đã xuống cấp và hư hỏng nhiều. Vào khoảng năm 1992, có một lần ông bà lên thăm ngoại thì có nghe ngoại nói “Cậu bảy mày cất được cái nhà cho ngoại ở vậy là ngoại mừng lắm rồi” (Cậu bảy tức là ông Huỳnh Văn N). Lúc đó, trên đất của bà ngoại chỉ có duy nhất một căn nhà cấp 4 mà ông N mới xây. Năm 2010, ông bà có lên thăm ngoại thì thấy phía sau căn nhà do ông N xây thì có xây thêm phần nhà phía sau, cũng là nhà cấp 4 nhưng không biết ai xây và ông bà cũng không hỏi về việc này. Về tài liệu chứng cứ chứng minh việc xây nhà thì ông bà không có để cung cấp cho Toà án. Ngoài ra, trên đất không có tài sản khác gắn liền với đất.
Quá trình quản lý, sử dụng nhà đất, việc chăm sóc, phụng dưỡng cụ bà H2: Cậu Út ông L1 thường xuyên làm việc ở Vũng Tàu nên chỉ về thăm, không ở hẳn lại nhà, bà L2 có nhà riêng nên không sống trong căn nhà này, dì T2 ông bà là bà V thường xuyên đi làm ở Bình Dương, thỉnh thoảng mới về thăm nhà, cậu bảy ông N làm nghề chạy xe nên thường xuyên về ở và nghỉ ngơi tại căn nhà, còn dì sáu bà G có một thởi gian có một thời gian ra ở trọ bên ngoài, từ lúc bà ngoại mất đến nay thì bà G ở tại căn nhà này. Theo ông bà được biết thì bà L2 và bà G là những người chăm sóc bà ngoại Hui, còn ông N và ông L1 thường xuyên gửi tiền về để các dì nuôi bà. Về việc này thì ông bà cũng không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh để cung cấp cho Toà án.
Về công sức đóng góp vào khối di sản do cụ H2 để lại: Khối di sản do cụ H2 để lại là cụ H2 tự tạo lập, không có công sức đóng góp của ai. Chỉ có căn nhà cấp 4 phía trước là do ông N xây từ năm 1990.
Về ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà V:
- Về công sức nuôi dưỡng, phụng dưỡng mẹ là bà Tạ Liềm H2 trong thời gian dài tương đương một kỷ phần thừa kế được hưởng là 287.764.000 đồng, ông bà không đồng ý;
- Về công sức bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng thêm giá trị quyền sử dụng đất đối với di sản thừa kế mà ông N, ông L1 đã thụ hưởng tương đương một kỷ phần thừa kế được hưởng là 287.764.000 đồng, ông bà không đồng ý;
- Đối với yêu cầu nhận hiện vật: Diện tích 100 m² (5m x dài 20m) thuộc thửa đất nêu trên, ông bà không đồng ý.
Ngoài ra, ông bà không có ý kiến và yêu cầu gì khác.
Vì điều kiện đi lại xa xôi nên ông bà yêu cầu Toà án cho ông bà vắng mặt trong các buổi làm việc, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, phiên hoà giải phiên toà xét xử vụ án và các hoạt động tố tụng khác như xem xét, thẩm định tại chỗ, chứng kiến việc đo đạc và thẩm định giá do Toà án các cấp tiến hành. Đồng thời cũng không có ý kiến gì về kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ, chứng kiến việc đo đạc và thẩm định giá và các vấn đề khác trong vụ án. Ông bà cam kết không khiếu nại, thắc mắc gì về sau và tôn trọng phán quyết của Toà án.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà E trình bày:
Do bà E có đơn xin vắng mặt nên ghi nhận ý kiến qua bản tự khai ngày 21/7/2023 như sau:
Bà là chị em cùng cha khác mẹ với ông N, ông L1, bà G, bà V. Cha ruột bà là cụ Lê Văn Đ1 (đã hy sinh năm 1947 trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp) và mẹ ruột bà là cụ Tạ Liềm H2 (sinh năm 1923, mất năm 2015), có 03 người con chung gồm bà Lê Thị Kim A1 (sinh năm 1940, mất năm 1984, bà A1 có 02 con là ông Lê Thành T, sinh năm 1956 và bà Lê Thị P1, sinh năm 1959), bà Lê Thị E, sinh năm 1942 và bà Lê Thị L2, sinh năm 1945. Ông Đ1 và cụ H2 chung sống vợ chồng đến năm 1947 thì ông Đ1 hy sinh. Sau đó, cụ H2 chung sống với ông Huỳnh Văn H1 (sinh năm 1923, mất năm 2008) nhưng chung sống vào thời gian nào, bà không nhớ. Ông bà ngoại của bà, tức là cha và mẹ của cụ H2 thì bà không biết họ tên, do ông bà đã chết từ rất lâu trong thời kỳ chiến tranh.
Cụ H1 và cụ H2 sinh được 04 người con gồm: Bà Huỳnh Thị Kim G, sinh năm 1956 (Tên thường gọi là S); địa chỉ: Số G, tổ I, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; ông Huỳnh Văn N, sinh năm 1957, địa chỉ: Ấp E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; ông Huỳnh Văn L1, sinh năm 1966, địa chỉ: khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai và bà Huỳnh Thị Thanh V, sinh năm 1962; địa chỉ: Số G, tổ I, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Cụ H1 và cụ H2 không có cha mẹ nuôi, không có con nuôi và không có ai sinh sống ở nước ngoài. Bà nghe nói cha dượng của bà là cụ H1 sau khi chia tay với mẹ bà là cụ H2 thì có lấy vợ khác và có con nhưng bà không biết rõ họ tên và những thông tin khác của những người này.
Về di sản do cụ H2 để lại có thửa đất số 24 (diện tích 349,6 m², trong đó có 250 m² đất thổ cư và 99,6 m² đất trồng cây hàng năm) thuộc tờ bản đồ số 47 toạ lạc tại khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Thửa đất này đã được UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V250871 ngày 06/5/2002 đứng tên cụ H2. Ngoài, ra cụ H2 không còn di sản nào khác. Khi cụ H2 chết không để lại di chúc.
Về nhà trên đất: Thời gian xây dựng cấp 4 ở phía trước cụ thể vào năm nào thì bà không nhớ vì thời gian đã quá lâu nhung bà nhớ căn nhà tồn tại khoảng gần 30 năm nay. Căn nhà do ông N xây, bà biết việc này là do mẹ bà cụ H2 nói cho bà biết căn nhà đã cũ hư và xuống cấp không còn sử dụng được nên ông N mới bỏ tiền ra xây dựng căn nhà, mục đích để mẹ ở lúc già. Về tài liệu chứng cứ chứng minh việc xây nhà thì bà không có để cung cấp cho Toà án. Ngoài ra, trên đất không có tài sản khác gắn liền với đất. Ngoài ra, bà biết phía căn nhà cấp 4 có một nhà kho cũ dùng để chứa đồ đạc linh tinh thì bà G có sửa chữa để làm nhà ở, bà không biết sửa chữa năm nào. Bà biết việc này vì có một lần bà lên thị trấn Đ thăm mẹ thì thấy căn nhà kho phía sau đang chuẩn bị sửa chữa, bà có hỏi thì bà G nói bà bỏ tiền ra để sửa chữa thành nhà ở. Việc này bà không có tài liệu, chứng cứ gì để cung cấp. Ngoài ra, trên đất cũng không có tài sản khác gắn liền với đất.
Về công sức đóng góp vào khối di sản: Chỉ có ông N, bà G là người xây nên những công trình trên đất như bà đã trình bày. Ngoải ra, không có ai khác xây dựng công trình hay san lấp mặt bằng hay làm bất cứ việc gì trên đất.
Về việc phụng dưỡng cụ H2: Người gần gũi nuôi dưỡng, chăm sóc cụ H2 nhiều nhất là bà G, bà L2. Việc này bà không có tài liệu, chứng cứ gì để cung cấp cho Toà án. Trước tiên, bà G nuôi, bà G có việc riêng gia đình nên giao cụ H2 cho bà L2. Bà L2 ốm một thời gian không kham nổi, gọi ông N và giao lại cho ông N. Ông N là đàn ông không tiện chăm sóc nên gọi bà V về chăm sóc, bà V đồng ý với điều kiện lương 4.000.000 đồng/tháng nhưng với yêu cầu lấy tiền trước mới nuôi. Còn tiền ăn uống hằng ngày do bà L2 lo.
Về ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà V:
- Về công sức nuôi dưỡng, phụng dưỡng mẹ cụ H2 trong thời gian dài tương đương một kỷ phần thừa kế được hưởng là 287.764.000 đồng, bà không đồng ý
- Về công sức bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng thêm giá trị quyền sử dụng đất đối với di sản thừa kế mà ông N, ông L1 đã thụ hưởng tương đương một kỷ phần thừa kế được hưởng là 287.764.000 đồng, bà không đồng ý.
- Đối với yêu cầu nhận hiện vật: Diện tích 100 m² (5m x dài 20m) thuộc thửa đất nêu trên, bà không đồng ý.
Ngoài ra, bà không có ý kiến và yêu cầu gì khác.
Vì tuổi đã cao và bà đang bị bệnh nên bà yêu cầu Toà án cho bà vắng mặt trong các buổi làm việc, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, phiên hoà giải phiên toà xét xử vụ án và các hoạt động tố tụng khác như xem xét, thẩm định tại chỗ, chứng kiến việc đo đạc và thẩm định giá do Toà án các cấp tiến hành. Đồng thời bà cũng không có ý kiến gì về kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ, chứng kiến việc đo đạc và thẩm định giá và các vấn đề khác trong vụ án. Bà cam kết không khiếu nại, thắc mắc gì về sau và tôn trọng phán quyết của Toà án.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán trình bày: Do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán có đơn xin vắng mặt nên ghi nhận ý kiến qua Công văn số 193/CV-CCTHADS ngày 12/9/2023 như sau:
Căn cứ bản án số 16/DSST ngày 30/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán và quyết định thi hành án số 25/THA ngày 14/11/2022 về khoản:
Buộc ông Mai Xuân Đ, bà Huỳnh Thị Thanh V, anh Ngô Huỳnh P2, anh Ngô Huỳnh A2 giao cho ông N, ông L1 căn nhà Số G, tổ I, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai cùng diện tích 349,6 m² thuộc thửa tạm số 24A, tờ bản đồ số 47 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V250871 do UBND huyện Đ cấp ngày 06/5/2002 cho cụ Tạ Liềm H2. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán đã ra quyết định hoãn thi hành án số 09/QĐQQD-CCTHA ngày 03/7/2023 đối với các khoản trên cho đến khi có quyết định, bản án xét xử của Toà án có hiệu lực pháp luật.
Căn cứ quyết định thi hành án số 72/THA ngày 19/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán về khoản: Ông Huỳnh Văn N và Huỳnh Văn L1, mỗi người phải trả giá trị chênh lệch bằng số tiền 143.882.000 đồng cho bà V. Ngày 26/6/2023, ông N và ông L1, mỗi người đã tự nguyện thi hành án số tiền 143.882.000 đồng cho bà V nhưng bà V không đồng ý nhận.
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 31/01/2024 và Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án số 08/2024/QĐ-SCBSBA ngày 26/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán đã quyết định:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 40, 68, 69, 92, 97, 147, 181, 227, 228, 238, 264, 266, 271, 273, 278 và 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 616, 618, 658 và 688 Bộ luật dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 70, 71 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Luật Phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Thanh V về việc “Tranh chấp thanh toán công sức nuôi dưỡng, phụng dưỡng người để lại di sản thừa kế và công sức bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng thêm giá trị quyền sử dụng đất đối với di sản thừa kế” đối với ông Huỳnh Văn N, ông Huỳnh Văn L1.
- Buộc ông Huỳnh Văn N, ông Huỳnh Văn L1, mỗi người có trách nhiệm thanh toán cho bà V số tiền 28.776.400 đồng (Hai mươi tám triệu bảy trăm bảy mươi sáu nghìn bốn trăm đồng).
Trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ về thanh toán thì kể từ ngày bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
[2] Về án phí:
Bà Huỳnh Thị Thanh V được miễn án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm.
Ông Huỳnh Văn N được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Huỳnh Văn L1 phải nộp 1.438.820 đồng (Một triệu bốn trăm ba mươi tám nghìn trăm tám hai mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
[3] Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật.
Ngày 06/02/2024, nguyên đơn là bà Huỳnh Thị Thanh V có Đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 31/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm theo hướng hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về Đơn kháng cáo của nguyên đơn Huỳnh Thị Thanh V: Đề nghị Hội đồng đồng xét xử không chấp nhận Đơn kháng cáo của bà V, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Về kiến nghị: Không
XÉT THẤY
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của nguyên đơn là Huỳnh Thị Thanh V làm trong thời hạn luật định và thuộc trường hợp miễn tạm ứng án phí theo quy định nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét nội dung Đơn kháng cáo của nguyên đơn Huỳnh Thị Thanh V, Hội đồng xét xử xác định:
[2.1] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Huỳnh Thị Thanh V:
[2.1.1] Hồ sơ vụ án thể hiện các đương sự đều thừa nhận:
- Khi còn sống, cụ ông Huỳnh Văn H1, sinh năm 1923 (mất năm 2008) và cụ bà Tạ Liềm H2, sinh năm 1923 (mất ngày 24/5/2015), trước khi chết có 04 người con ruột gồm bà Huỳnh Thị Kim G, ông Huỳnh Văn N, bà Huỳnh Thị Thanh V và ông Huỳnh Văn L1. Trước khi chung sống với cụ H1, cụ H2 có chồng là liệt sỹ cụ ông Lê Văn Đ1 (mất năm 1947) có với nhau 03 người con ruột gồm bà Lê Thị Kim A1 (mất năm 1984, có chồng là ông Lương Văn T1 (mất năm 2000), bà A1 và ông T1 có 02 con ruột là ông Lê Thành T, sinh năm 1956 và bà Lương Thị P, sinh năm 1959) và bà Lê Thị L2, sinh năm 1945 và Lê Thị E, sinh năm 1942. Ngoài ra, cụ H2 không còn sống chung như vợ chồng với ai khác và cũng không còn con ruột, con nuôi hay con ngoài giá thú nào khác. Còn cha mẹ của cụ H1, cụ Đ1, cụ H2 đã mất từ lâu do tuổi già. Trước khi mất cụ H2 mất, cụ có để lại di sản là căn nhà đất thuộc thửa đất số 24 (thửa tạm là 24A), tờ bản đồ số 47 có diện tích 349,6 m² toạ lạc tại: Số G, tổ I, khu phố H (trước đây là khu phố H), thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai đã được UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V250871 ngày 06/5/2022, cho cụ H2 để cụ sinh sống và dùng vào việc thờ cúng;
- Các đương sự xác định không có tranh chấp đối với di sản cụ H2 để lại nêu trên vì đã được giải quyết bằng bản án số 16/2022/DS-ST ngày 30/8/2022 có hiệu lực pháp luật và hiện đang được cơ quan thi hành án thi hành. Tại bản án số 16/2022/DS-ST ngày 30/8/2022, ngoài việc giải quyết chia thừa kế di sản cụ H2 để lại, các đương sự không có yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết đối với “công sức nuôi dưỡng, phụng dưỡng người để lại di sản thừa kế và công sức bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng thêm giá trị quyền sử dụng đất đối với di sản thừa kế”;
[2.1.2] Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thanh V trình bày:
- Năm 2010, cụ H2 già yếu, bị té, rồi bệnh dẫn đến đi lại, sinh hoạt khó khăn nên bà và chồng ông Mai Xuân Đ có về căn nhà đất trên sinh sống và chăm sóc cụ từ đó cho đến tháng 5/2015, cụ mất do bệnh. Trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến trước lúc cụ H2 mất vào tháng 05/2015, bà là người trực tiếp bỏ công sức, thời gian, tiền bạc để chăm sóc, nuôi dưỡng, phụng dưỡng; các anh chị em còn lại không có phụ giúp, hỗ trợ gì để chăm sóc mà thỉnh thoảng 01 đến 02 tháng, có ông L1, bà G, bà L2 ghé thăm và mỗi người đưa cho bà 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng để mua đồ ăn, thức uống cho cụ. Đối với công sức này, bà không nhớ mỗi tháng bỏ ra bao nhiêu tiền, công sức như thế nào, mà chỉ nhớ gia đình bà ăn uống gì thì cụ H2 ăn uống đó nên không có tài liệu, chứng cứ chứng minh. Qúa trình sinh sống, quản lý sử dụng, bà và ông Đ có đứng ra tôn tạo là sửa chữa mương nước, cống rãnh, mảng nền sân, hàng rào, mái hiên...vv nhiều lần nhưng không xác định được đã bỏ ra bao nhiêu tiền bạc, công sức, thời gian và do việc tôn tạo, sửa chữa này không phải là công trình lớn nên không có lưu giữ hoá đơn, tài liệu, chứng cứ để chứng minh. Còn công sức bà làm tăng thêm giá trị quyền sử dụng đất đối với di sản thừa kế cụ H2 để lại mà ông N, ông L1 đã được thụ hưởng, đó là bà đã giữ gìn, bảo quản nhà cửa từ năm 2010 cho đến nay, bà và ông Đ không xác định được đã bỏ ra bao nhiêu tiền bạc, công sức và cũng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh.
- Ông Đ thống nhất với phần trình bày của bà V, tuy ông Đ có công sức cùng bà V nuôi dưỡng, phụng dưỡng cụ H2 và công sức bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng thêm giá trị quyền sử dụng đất đối với di sản thừa kế cụ H2 để lại như bà V trình bày nhưng ông xác định không có yêu cầu độc lập hay ý kiến, yêu cầu gì, đề nghị Toà án giải quyết theo yêu cầu khởi kiện của bà V.
- Các đương sự còn lại trình bày, khi cụ H2 già yếu, bệnh tật, bà G là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cụ, còn bà L2 là người trực tiếp đưa cơm nước đến nuôi dưỡng cùng bà G; còn ông L1, ông N, bà V lập gia đình, phải lo làm ăn, sinh sống nên không chăm sóc, nuôi dưỡng cụ được. Đến đầu năm 2015, sức khỏe cụ H2 đã yếu, ốm đau, bệnh tật thường xuyên nên các anh em gồm ông L1, ông N, bà G, bà L2 bàn bạc bằng miệng, mỗi người góp 1.000.000 đồng và đưa cho bà V đứng ra trông nôm, trả tiền trông nôm cụ H2 cho bà V, còn tiền thuốc, ăn uống, sinh hoạt khác...vv của cụ do bà G, bà L2 trả hết cho đến khi cụ H2 mất vào tháng 05/2015.
[2.1.3] Về việc thu thập chứng cứ, tài liệu:
- Toà án đã tiến hành xác minh tại Công an thị trấn Đ và chính quyền địa phương, hàng xóm (Bút lục số 481, 482, 483, 484 và 491) thể hiện bà V có sinh sống cùng cụ H2 tại căn nhà đất toạ lạc tại: Số G, tổ I, khu phố H cũ (nay là khu phố H), thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai từ năm 1970 cho đến nay nhưng năm 2013, bà V do thiếu nợ nên đã đi khỏi địa phương, nên việc chăm sóc, nuôi dưỡng cụ H2 già yếu lúc này do bà G chăm sóc. Đầu năm 2015, bà V mới quay về sinh sống tại tại căn nhà trên và cùng bà G chăm sóc cụ H2 cho đến khi cụ mất tháng 5 năm 2015. Ngoài ra, không còn ai khác, chăm sóc, nuôi dưỡng cụ H2 lúc già yếu cho đến khi mất. Căn nhà đất toạ lạc tại: Số G, tổ I, khu phố H cũ (nay là khu phố H), thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai do cụ H2 xây dựng, trong qúa trình chung sống, bà V không có xây dựng, sữa chữa, cải tạo đất mà chỉ ở và chăm sóc cụ H2. Từ khi cụ H2 chết, hiện nay bà V, ông Đ là người trực tiếp quản lý, sử dụng và sinh sống trên căn nhà đất trên. Tại buổi xem xét, thẩm định tại ngày 12/10/2023, hiện trạng căn nhà đất thuộc thửa đất số 24 (thửa tạm là 24A), tờ bản đồ số 47 có diện tích 349,6 m² toạ lạc tại: Số G, tổ I, khu phố H (trước đây là khu phố H), thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai không có gì thay đổi so với biên bản xem xét, tại chỗ ngày 17/12/2019 theo bản án số 16/2022/DS-ST ngày 30/8/2022.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét thấy,
- Căn cứ kết quả thu thập, xác minh các tài liệu, chứng cứ nêu trên, chứng tỏ khi cụ H2 già yếu, bệnh tật cho đến khi mất, bà V là người có một phần công sức chăm sóc, nuôi dưỡng cụ từ năm 2010 đến năm 2013 và đầu năm 2015 đến khi cụ mất; ngoài bà V, còn có công sức đóng góp chăm sóc, nuôi dưỡng cụ H2 của bà G từ năm 2013 đến khi cụ mất tháng 5/2015 và sự phụ giúp một phần tiền của các anh chị em còn lại như bà V thừa nhận. Do có sinh sống, chăm sóc, nuôi dưỡng, phụng dưỡng cụ H2 trong thời gian trên nên bà V cùng bà G đều có một phần công sức trong việc giữ gìn, bảo quản di sản cụ H2 để lại từ năm 2010 đến khi cụ H2 mất. Bà V, ông Đ trình bày, quá trình sinh sống cùng cụ H2 trên và tại thời điểm sau khi được chia thừa kế năm 2022 cho đến hiện nay, ông bà là người trực tiếp quản lý, sử dụng, sinh sống trên căn nhà di sản cụ H2 để lại và thừa nhận hiện trạng di sản do cụ H2 theo kết quả xem xét, thẩm định tại ngày 12/10//2023 không có gì thay đổi so với hiện trạng theo biên bản xem xét, tại chỗ ngày 17/12/2019 theo bản án số số 16/2022/DS-ST ngày 30/8/2022, nhưng ông bà có đứng ra tôn tạo là sửa chữa mương nước, cống rãnh, mảng nền sân, hàng rào, mái hiên...vv nhiều lần nhưng không cung cấp được bất cứ tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh nên không căn cứ xem xét, chấp nhận là có căn cứ pháp luật.
- Bà Huỳnh Thị Thanh V có một phần công sức về việc “Nuôi dưỡng, phụng dưỡng cụ H2 và bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng thêm giá trị quyền sử dụng đất đối với di sản thừa kế cụ H2 để lại” từ năm 2010 đến năm 2013 và đầu năm 2015 đến khi cụ H2 mất tháng 5/2015 nên các yêu cầu khởi kiện của bà V có căn cứ chấp nhận một phần. Bà V không xác định được đã bỏ ra bao nhiêu tiền bạc, công sức bao nhiêu nên không có căn cứ xem xét. Theo bản án 16/2022/DS-ST ngày 30/8/2022, di sản cụ H2 để lại được chia thành 07 kỷ phần cho các hàng thừa kế thứ nhất của cụ, trong đó bà V đã được chia một kỷ phần, ông L1, ông N, mỗi người được hưởng 03 kỷ phần (trong đó, ông N được bà L2, ông T và bà P là thừa kế kế vị của bà Kim A1 cho lại 01 kỷ phần, ông L1 được bà L2, bà G cho lại 01 kỷ phần của mình) nên ngoài ông L1, ông N, bản thân bà V cũng phải có trách nhiệm liên đới thanh toán đối với người có công chăm sóc, nuôi dưỡng, phụng dưỡng cụ H2 và người quản lý, giữ gìn, bảo quản di sản cụ H2 để lại trong thời gian từ năm 2010 cho đến tháng 5/2015. Thêm vào đó, bà V và gia đình bà V còn là người trực tiếp quản lý, sử dụng và sinh sống trên căn nhà đất do cụ H2 để lại từ năm 2010 đến năm 2015 và từ năm 2022 cho đến thời điểm hiện nay nên đã được hưởng lợi về chỗ ở, điều kiện sinh sống, làm ăn. Mặt khác, bà V là con ruột của cụ H2 nên phải có trách nhiệm cùng các người con khác của cụ H2 cùng chăm sóc, nuôi dưỡng, phụng dưỡng cụ H2 lúc già yếu, bệnh tật cho đến khi mất, đó là đạo đức, truyền thống, trách nhiệm, lẽ sống, quy định của pháp luật...vv của người con đối với cha mẹ, bậc sinh thành.
Do đó, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm quyết định chấp nhận mỗi yêu cầu khởi kiện của bà V là 10% x 287.764.000 đồng (giá trị một kỷ phần thừa kế) = 28.776.400 đồng và xét về yêu cầu của bà V không nhận tiền mặt mà xin nhận hiện vật là một phần đất di sản thừa kế cụ H2 để lại có diện tích 100 m², ngang 5m, dài 20m nhằm bảo đảm chỗ ở cho bà và gia đình và đồng ý thanh toán lại giá trị di sản cho các đồng thời kế khác theo quy định pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy đối với hiện vật là toàn bộ căn nhà đất toạ lạc tại: Số G, tổ I, khu phố H cũ (nay là khu phố H), thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai mà cụ H2 để lại đã được chia và giao lại toàn bộ hiện vật nêu trên cho ông L1, ông N theo theo bản án số 16/2022/DS-ST ngày 30/8/2022 đã có hiệu lực pháp luật, đã được cơ quan thi hành án thi hành nên không có căn cứ xem xét, chấp nhận đối với yêu cầu này. Ngoài ra, bà V không có yêu cầu nào khác nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Vì vậy, buộc ông L1, ông N, mỗi người có trách nhiệm thanh toán cho bà V số tiền 28.776.400 đồng là có căn cứ pháp luật.
[2.2] Đối với kháng cáo của nguyên đơn Hủynh Thị Thanh V1:
Như trên đã phân tích, việc cấp sơ thẩm chấp nhận một phần Đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thanh V là có cơ sở và tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không có cơ sở để chấp nhận.
[3] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Huỳnh Thị Thanh V2 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định (bà V2 thuộc trường hợp được miễn án phí).
[4] Đối với quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm đã được Hội đồng xét xử phúc thẩm thể hiện quan điểm như trên đã phân tích.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng khoản 1 điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Không chấp nhận Đơn kháng cáo của nguyên đơn là bà Huỳnh Thị Thanh V2. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Căn cứ vào Điều 26, Điều 38, Điều 147, Điều 148, Điều 228, Điều 286, Điều 293, Điều 294, Điều 313, Điểu 315 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 616, 618, 658 và 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Thanh V về việc “Tranh chấp thanh toán công sức nuôi dưỡng, phụng dưỡng người để lại di sản thừa kế và công sức bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng thêm giá trị quyền sử dụng đất đối với di sản thừa kế” đối với ông Huỳnh Văn N, ông Huỳnh Văn L1.
Buộc ông Huỳnh Văn N, ông Huỳnh Văn L1, mỗi người có trách nhiệm thanh toán cho bà Huỳnh Thị Thanh V số tiền 28.776.400 đồng (hai mươi tám triệu bảy trăm bảy mươi sáu nghìn bốn trăm đồng).
Trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ về thanh toán thì kể từ ngày bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
[2] Về án phí:
Bà Huỳnh Thị Thanh V được miễn án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm.
Ông Huỳnh Văn N được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Huỳnh Văn L1 phải nộp 1.438.820 đồng (Một triệu bốn trăm ba mươi tám nghìn trăm tám hai mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
[3] Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Phương Đông |
Bản án số 183/2024/DS-PT ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp thanh toán công sức nuôi dưỡng, phụng dưỡng người để lại di sản thừa kế và công sức bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị quyền sử dụng đất đối với di sản thừa kế
- Số bản án: 183/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thanh toán công sức nuôi dưỡng, phụng dưỡng người để lại di sản thừa kế và công sức bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị quyền sử dụng đất đối với di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Theo đơn khởi kiện đề ngày 04/4/2023, các đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung đề các ngày 11/5/2023, 01/6/2023 và 01/7/2023; bản tự khai, quá trình làm việc và tại phiên toà, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thanh V trình bày: Cha mẹ ruột của bà là cụ ông Huỳnh Văn H1, sinh năm 1923 (mất năm 2008) và cụ bà Tạ Liềm H2, sinh năm 1923 (mất ngày 24/5/2015), trước khi chết có 04 người con ruột gồm bà, bà Huỳnh Thị Kim G, ông Huỳnh Văn N và ông Huỳnh Văn L1; ngoài ra, hai cụ không còn con ruột, con nuôi hay con ngoài giá thú nào khác. Trước khi chung sống với cụ H1, cụ H2 có chồng là liệt sỹ cụ ông Lê Văn Đ1 (mất năm 1947) có với nhau 03 người con ruột gồm bà Lê Thị Kim A1 (mất năm 1984, có chồng là ông Lương Văn T1 (mất năm 2000) có với nhau 02 con là ông Lê Thành T, sinh năm 1956 và bà Lương Thị P, sinh năm 1959), bà Lê Thị L2, sinh năm 1945 và bà Lê Thị E, sinh năm 1942. Ngoài ra, cụ H2 không còn chung sống với ai khác và cũng không còn con ruột, con nuôi hay con ngoài giá thú nào khác. Cha mẹ của các cụ H1, Đ1, H2 đã mất từ lâu do tuổi già.
