TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 183/2024/DS-ST
Ngày: 17 - 7 - 2024
V/v Tranh chấp quyền sử dụng
đất và yêu cầu tháo dỡ di dời tài
sản trên đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thành.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Rạt.
Ông La Văn Việt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lê Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 25/2023/TLST-DS ngày 09 tháng 01 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ di dời tài sản trên đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2024/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị N, sinh năm 1944;
Địa chỉ: Tổ A, Ấp D, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
Người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn: Bà Lê Thị P, sinh năm 1966.
Địa chỉ: ấp N, xã Đ, Đ, tỉnh Long An. Theo Giấy ủy quyền ngày 10/02/2023.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1964.
Địa chỉ: ấp N, xã Đ, huyện Đ, Long An.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1960.
- Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: ấp N, xã Đ, huyện Đ, Long An.
Địa chỉ: Khu B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Ông Hồ Phương B – Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đ. Theo văn bản ủy quyền số 10730/GUQ-CT ngày 08/7/2024.
Người làm chứng:
- Bà Đoàn Thị H, sinh năm 1969
- Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1976.
Địa chỉ: ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An
Địa chỉ: 1 L, Phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Bà P, bà M, ông Đ, bà D có mặt; những người còn lại vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 30/12/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Huỳnh Thị N do bà Lê Thị P trình bày: Ngày 15/02/2008, bà Huỳnh Thị N và ông Nguyễn Văn M1 (ba của bà M) có thỏa thuận chuyển nhượng phần diện tích đất ngang 8m, dài hết đất với giá 12.000.000đồng/m ngang theo giấy tay mua bán đất cùng ngày. Các bên đã thực hiện xong thủ tục chuyển nhượng. Bà N nhận đất quản lý sử dụng ổn định từ đó đến năm 2019. Ngày 28/08/2008, bà N được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với toàn bộ diện tích đất nhận chuyển nhượng của ông M1 như sau: giấy CNQS đất số AN 395702 tại thửa đất số 640, tờ bản đồ số 14, diện tích 141m², loại đất ONT; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 395700 tại thửa đất số 656, tờ bản đồ số 14, diện tích 145m², loại đất HNK; giấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 792027 tại thửa đất số 638, tờ bản đồ số 14, điện tích 44m2, loại đất HNK; giấy CNQS đất số AN 395701 tại thửa đất số 639, tờ bản đồ số 14, diện tích 260m², loại đất LUA.
Sau khi nhận đất sử dụng bà N đã kéo hàng rào B40 để rào xung quanh đất và xác định ranh giới với các thửa liền kể. Tiếp giáp với thửa đất 639 của bà N là thửa đất 381 của bà Nguyễn Thị M (được ông M1 tặng cho). Năm 2019, bà M đỗ đất sang lấp thửa 381 đã đỗ đất tràn sang thửa đất 639 của bà N làm sập một đoạn hàng rào với diện tích khoảng 4m² sau đó ông Đ đã trồng lại hai trụ xi măngmới dẫn đến không đúng với ranh đất ban đầu lấn qua đất của bà N. Bà N và bà có yêu cầu bà M không được đỗ đất sang đất của bà N thì bà M cho rằng chỉ đổ bên diện tích đất của bà M, diện tích đất vẫn đủ kích thước ngang 8m. Đề năm 2021, theo chính sách đất đai của nhà nước, cơ quan nhà nước tiến hành đo đạc lại hiện trạng đất, diện tích đo đạc thực tế không đúng với diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thửa 639 bị giảm khoảng 4m² tại vị trí đất tiếp giáp với thửa đất 381 của bà M đã đỗ đất trước đó làm sập hàng rào nhà tôi. Sau khi phát hiện diện tích đất bị lần chiếm, bà N đã nhiều lần yêu cầu bà M trả nhưng không thỏa thuận được.
Nay sau khi Tòa án tiến hành đo đạc nguyên đơn thay đổi yêu cầu xác định khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị M, ông Lê Văn Đ phải trả cho bà Huỳnh Thị N diện tích đất 2,6m²( vị trí đất thuộc khu B theo Mảnh trích đo địa chính số 232-2023 ngày 29/6/2023) thuộc một phần thửa 639, tờ bản đồ số 14, tọa lạc ấp N, xã Đ, huyện Đ,
tỉnh Long An và di dời hai trụ trụ xi măng do bị đơn trồng cho đúng diện tích đã mua ban đầu và đúng với thực tế giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Bị đơn bà Nguyễn Thị M trình bày: Bà Nguyễn Thị M là chủ thửa đất số 381, tờ bản đồ số 14, tọa lạc ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An giáp ranh với thửa 639 của bà Huỳnh Thị N. Trên đất tranh chấp hiện trạng là đất trống bà Nguyễn Thị M không có lấn đất của bà Huỳnh Thị N. Bà M quản lý đúng phần đất của bà M chứ không như ý kiến của nguyên đơn. Nên nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị M phải trả cho bà N diện tích đất 2,6m² (vị trí đất thuộc khu B) thuộc một phần thửa 639, tờ bản đồ số 14, tọa lạc ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An bên bà không đồng ý. Bà đề nghị Tòa án triệu tập và yêu cầu địa chính xã đo đạc lại toàn bộ diện tích đất các hộ dân liền kề bà Nguyễn Thị D, Đoàn Thị H và bà Huỳnh Thị N. Đối với phần đất của bà Huỳnh Thị N sau khi xác định cọc ranh cắm vị trí của ai thì quyền sử dụng đất thuộc về bên đó, trường hợp bà N yêu cầu mua phần đất tranh chấp trên thì bà bán diện tích trên với với giá 150.000.000đồng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn Đ trình bày: Ông là chồng bà Nguyễn Thị M. Ông thống nhất ý kiến bà M không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì sức khỏe nên ông xin vắng mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện Đ trình bày ý kiến tại Văn bản số 11187/UBND-NC ngày 05/9/2023 như sau:
- Ngày 28/8/2008, UBND huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Huỳnh Thị N tại thửa đất sô 639, tờ bản đồ số 14, đất tọa lạc xã Đ là căn cứ vào Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn M1 với bà Huỳnh Thị N được UBND xã Đ chứng thực ngày 10/5/2008.
- Ngày 15/10/2008, UBND huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị M với diện tích 1483m², gồm 02 thửa trong đó có thửa đất số 381, tờ bản đồ số 14 là căn cứ vào Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Văn M1 với bà Nguyễn Thị M được UBND xã Đ chứng thực ngày 22/9/2008.
Tại bản tự khai ngày 15/7/2024 bà Đoàn Thị H trình bày: Bà có phần nhà đất thuộc thửa 642, 641 tờ bản đồ số 14 (giáp ranh đất của bà Huỳnh Thị N – cách thửa đất của bà Nguyễn Thị D). Bà mua đất từ năm 2012, xây nhà từ năm 2017 ở ổn định cho đến nay. Bà không có bà con họ hàng gì với bà Huỳnh Thị N và bà Nguyễn Thị M. Bà có biết việc bà Huỳnh Thị N mua đất của bà Nguyễn Thị M vào năm 2008, bà N có làm hàng rào phần đất mua bằng đầu bằng đuôi (không bị bóp méo hình dạng). Bà biết năm 2019 bà M có san lấp làm đổ trụ ranh hàng rào của bà N dẫn đến bà N phản ứng gởi đơn đến UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An kết quả giải quyết như thế nào thì bà không biết. Nay bà không có yêu cầu gì ngoài ra bà có đơn đề nghị vắng mặt trong phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm (trường hợp có kháng cáo kháng nghị).
Tại phiên tòa người đại diện ủy quyền của nguyên đơn bà Lê Thị P trình bày: Nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện so với đơn khởi kiện xác định chỉ yêu cầu bên phía bà M cùng chồng là ông Đ hoàn trả lại diện tích đất khu B (diện tích 2,6m²) theo Mảnh trích đo địa chính và yêu cầu bà M, ông Đ di dời hai trụ trụ xi măngtrên phần đất tranh chấp vì trước đây ranh hàng rào bà có làm lưới B40 vây nhưng sau này khi bên bà M đổ đất làm hư trụ xi măngcũ và ông Đ đã trồng lại hai
trụ xi măngmới nên dẫn đến không đúng vị trí và yêu cầu bà M, ông Đ tháo dỡ hai trụ trụ xi măngcắm hàng rào mà ông Đ mới trồng trên phần đất tranh chấp. Đối với tài sản trên đất nếu xác định đất của ai thì người đó tháo dỡ tài sản trên đất bà không có yêu cầu gì khác. Đối với ý kiến đo đạc lại của bị đơn bà không đồng ý, nếu đo đạc thì bị đơn nộp tiền tạm ứng, về vị trí đất khu C nguyên đơn thay đổi yêu cầu không khởi kiện.
Tại phiên tòa bị đơn bà Nguyễn Thị M trình bày: Bà giữ nguyên ý kiến đã trình bày, nay trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà không đồng ý vì bà không có lấn đất của bà N. Bà yêu cầu Tòa án yêu cầu địa chính xã đo đạc lại toàn bộ diện tích đất của bà Đoàn Thị H, bà Nguyễn Thị D, bà Huỳnh Thị N và ông Trần Thanh T nhưng bà không đóng tiền tạm ứng đo đạc bà đề nghị nguyên đơn đóng vì nguyên đơn là người khởi kiện và bà đề nghị Tòa án triệu tập những người gần nhà bà theo yêu cầu của bà. Trên thửa 381 hiện là của bà không có cấm cố thế chấp cho ai do vợ chồng bà sinh sống trên đất, đối với Lê Công L là con bà nhưng không có liên quan gì với phần đất tranh chấp vì đất này bà đứng tên. Đối với tài sản trên đất nếu xác định đất của ai thì người đó tháo dỡ tài sản trên đất bà không có yêu cầu gì khác.
Tại phiên tòa người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn Đ trình bày: Ông là chồng bà Nguyễn Thị M. Thửa đất 381 của bà M giáp ranh với thửa đất của bà N, khi ông đổ đất thửa 381 của ông thì xe có làm gãy hai cây trụ xi măng hàng ranh cũ nhưng ông đã dựng lại hai trụ xi măng mới này vào đúng vị trí cũ chứ không có lấy hay di dời lấn đất của bà N. Nay nguyên đơn khởi kiện ông không đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn vì ông bà không có lấn đất của bà N. Ông thông nhất ý kiến của bà M đề nghị Tòa án yêu cầu địa chính xã đo đạc lại toàn bộ khu đất các hộ dân như bà M trình bày, không yêu cầu gì khác.
Tại bản tự khai và tại phiên tòa bà Nguyễn Thị D trình bày: Bà có lô đất kế bên giáp ranh nhà Đoàn Thị H. Theo bà được biết vụ án tranh chấp đất giữa bà Huỳnh Thị N khởi kiện bà Nguyễn Thị M nhưng bà Nguyễn Thị M không đồng ý. Theo như bà M trình bày thì bà yêu cầu đo đạc lại toàn bộ phần đất của các hộ dân liền kề vụ việc đã được UBND xã Đ hòa giải và bà có chứng kiến sự việc đó theo bà thì có cả bà Đoàn Thị H.
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An:
- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử vụ án, những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Căn cứ vào hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 639 của bà Huỳnh Thị N và thửa 381 của bà Nguyễn Thị M tuy nhiên khi cấp giấy không có đo đạc thực tế. Ranh đất giữa hai thửa có hàng rào lưới B40 do bà N làm bà M có đổ đất thửa 381 làm gãy hai trụ trụ xi măngranh hành rào điều nay được các bên thống nhất. Hiện nay phần diện tích đất tranh chấp theo trích đo địa chính thuộc khu B diện tích 2,6m² và ranh bản đồ địa chính thì phần đất tranh chấp diện tích 2,6m² thuộc quyền sử dụng đất thửa 639 của bà Huỳnh Thị N. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ các kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xứ nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Nguyên đơn bà Huỳnh Thị N khởi kiện bà Nguyễn Thị M tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ tài sản trên đất. Phần đất tranh chấp có vị trí tọa lạc tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An nên căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Toà án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý vụ án với quan hệ là tranh chấp quyền sử dụng đất để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.
[1.2]. Tại phiên tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên người quan đại diện ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện Đ vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
[1.3] Đối với ông Lê Công L (con bà M) sinh sống cùng bà M trên thửa 381, tại phiên tòa ngày 06/5/2024 ông L trình bày đất này của cha mẹ ông ông không có liên quan và đề nghị không đưa ông vào tham gia tố tụng. Quá trình giải quyết bà M, ông Đ cũng trình bày không liên quan đến ông Lê Công L vì đất này của bà M đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với bà Đoàn Thị H, bà Nguyễn Thị D, ông Trần Thanh T là những hộ dân kế bên nhà bà Huỳnh Thị N không có đơn tranh chấp gì trong vụ án này, ngoài ra bà M yêu cầu đo đạc đất toàn bộ khu đất của những người này nhưng không làm đơn yêu cầu và có ý kiến không đồng ý đóng tạm ứng chi phí đo đạc lại và vị trí đất tranh chấp của vụ án không có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của những người này. Vì vậy, Hội đồng xét xử thống nhất không đưa ông Lê Công L, bà Đoàn Thị H, bà Nguyễn Thị D, Trần Thanh T vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là phù hợp với Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.4]. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; các đương sự xác nhận không cung cấp chứng cứ tài liệu mới; không yêu cầu triệu tập thêm người tham gia tố tụng; nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập. Kết quả hòa giải không thành nên đưa vụ án ra xét xử.
[1.5] Quá trình giải quyết và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Huỳnh Thị N có đại diện theo ủy quyền là bà Lê Thị P thay đổi yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu bà Nguyễn Thị M và ông Lê Văn Đ trả diện tích đất 2,6m² (khu B) thuộc một phần thửa 639, tờ bản đồ số 14, tọa lạc ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Hội đồng xét xử xét thấy việc thay đổi yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn là sự tự định đoạt của đương sự, không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu và có lợi cho bị đơn bà Nguyễn Thị M nên Hội đồng xét xử ghi nhận là phù hợp với Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung khởi kiện:
[2.1] Những nội dung nguyên đơn và bị đơn thống nhất:
- Dùng Chứng thư thẩm định giá số: 325/07/08/2023/TĐG LA-BĐS ngày 07/8/2023 của Công ty cổ phần T1 làm căn cứ giải quyết vụ án. Phạm vi tranh chấp nguyên đơn và bị đơn đều xác định quyền sử dụng đất các bên tranh chấp thuộc khu B (2,6m²) theo Mảnh trích đo địa chính số 232-2023 ngày 29/6/2023.
- Nguyên đơn và bị đơn thống nhất xác định trên diện tích đất 2,6m² (vị trí khu B) hàng rào lưới B40 do bà N dựng, hai cột trụ xi măng mới dựng do ông Lê Văn Đ dựng và quyền sử dụng đất đất tranh chấp thuộc về ai, phần đất san lấp (nếu có tràn qua) thì tự tháo dỡ di dời và không tranh chấp, yêu cầu gì khác.
Nên đây được xem là các tình tiết sự thật của vụ án, không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92, 93 Bộ luật Tố tụng dân sự và sự thỏa thuận, quyền tự định đoạt của đương sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[2.2].Nguyên đơn bà Huỳnh Thị N do bà Lê Thị P đại diện và bà Nguyễn Thị M, ông Lê Văn Đ đều xác định ranh giới giữa hai thửa đất 639 của bà Huỳnh Thị N và thửa đất 381 của bà Nguyễn Thị M trước đây có hàng rào bằng trụ xi măng kéo lưới B40 hiện nay vẫn còn trên thực địa tuy nhiên hiện nay cạnh phía đông nam giáp đường bê tông có hai trụ cột xi măng trên vị trí ký hiệu Khu B diện tích 2,6m² thuộc một phần thửa 639, tờ bản đồ số 14 đất tọa lạc tại ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An để trả lại quyền sử dụng đất cho bà Huỳnh Thị N.
Việc bị đơn bà Nguyễn Thị M trình bày cho rằng bà không có lấn của bà Huỳnh Thị N diện tích 2,6m² thuộc khu B theo Mảnh trích đo địa chính số 232-2023 và xác định khu B này là của bà nhưng không đưa ra được tài liệu chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của bà là quyền sử dụng đất phần đất tranh chấp khu B thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị M. Trong khi đó hồ sơ cấp giấy chứng nhận của bà bà Huỳnh Thị N nhận chuyển nhượng thửa 639 (trước là một phần các thửa 338, 381, 340) do ông Nguyễn Văn M1 là ba của bà M được thể hiện tại Trích đo bản đồ địa chính duyệt ngày 22/4/2008 thể hiện diện tích đất chuyển nhượng chiều ngang giáp đường đất 08m và bà Huỳnh Thị N được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 359701 đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 28/8/2008 và theo Mảnh trích đo địa chính số 232-2023 ngày 29/6/2023 được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ duyệt ngày 13/7/2023 thể hiện phần đất tranh chấp diện tích 2,6m² (Khu B) thuộc một phần thửa đất số 639 của bà Huỳnh Thị N đứng tên cũng như chiếu chiều thẳng theo cột bê mà bà N đã dựng trước đó cũng như trụ xi măng cũ còn theo biên bản thẩm định. Từ đó, Hội đồng xét xử có căn cứ khẳng định diện tích 2,6m² (Khu B) theo Mảnh trích đo địa chính số 232-2023 thuộc một phần thửa 639 tờ bản đồ số 14 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của nguyên đơn bà Huỳnh Thị N nên bị đơn bà Nguyễn Thị M phải có nghĩa vụ trả lại diện tích đất lấn chiếm và tháo dỡ tài sản trên đất trả lại cho bà N là phù hợp với Điều 175 Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 100, Điều 202 và Điều 203 Luật đất đai năm 2013 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.3] Về yêu cầu tháo dỡ di dời tài sản trên đất: Theo Biên bản thẩm định và Chứng thư thẩm định giá số: 325/07/08/2023/TĐG LA-BĐS ngày 07/8/2023 của Công ty cổ phần T1 và lời trình bày của đương sự, hiện nay trên phần đất tranh chấp bà M, ông Đ đã dựng hai trụ cột xi măng (mới) của bà M và hàng rào lưới B40 (trụ xi
măng cũ) do bà N làm. Các bên không tranh chấp và thống nhất nếu quyền sử dụng đất thuộc quyền sử dụng của bà N thì bà M, ông Đ có trách nhiệm tháo dỡ do dời hai trụ cột xi măng, ngược lại nếu quyền sử dụng đất của bà M thì bà N có trách nhiệm tháo dỡ hàng rào lưới B40 .
Theo mục [2.2] thì diện tích 2,6m² (Khu B) theo Mảnh trích đo địa chính số 232-2023 thuộc một phần thửa 639 tờ bản đồ số 14 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của nguyên đơn bà Huỳnh Thị N nên bên bị đơn bà Nguyễn Thị M, ông Lê Văn Đ phải có trách nhiệm tháo dỡ di dời tài sản trên phần đất là hai trụ xi măng (ông Đ dựng) tại khu B để trả lại diện tích đất cho bà Huỳnh Thị N là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị M đề nghị Tòa án tiến hành đo đạc lại phần đất tranh chấp đối với toàn bộ khu đất cả của các hộ dân kế bên gồm đất của bà Huỳnh Thị N, bà Đoàn Thị H, bà Nguyễn Thị D và ông Trần Thanh T. Tuy nhiên quá trình giải quyết Tòa án đã tiến hành lấy lời khai bà Năm ngày 28/8/2023 và ngày 03/7/2024 cũng như tại phiên tòa bà Nguyễn Thị M đều có ý kiến bà không đồng ý làm đơn yêu cầu đo đạc và không đồng ý đóng tiền tạm ứng chi phí đo đạc lại trong khi tại phiên tòa đại diện nguyên đơn không đồng ý đo đạc lại và đóng tiền tạm ứng nên yêu cầu đo đạc lại này của bà M không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về chi phí đo đạc thẩm định giá: Tổng cộng số tiền 21.400.000đồng. Nguyên đơn bà Huỳnh Thị N đã nộp và chi phí xong. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên cần buộc bà Lê Thị M2 và ông Lê Văn Đ phải có trách nhiệm liên đới hoàn lại số tiền 21.400.000đồng cho bà Huỳnh Thị N.
[5] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[6]. Về án phí: Bà Nguyễn Thị M và ông Lê Văn Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận. Tuy nhiên bà Nguyễn Thị M và ông Lê Văn Đ thuộc trường hợp người cao tuổinên được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 246, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 175 và Điều 288 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 100, Điều 202 và Điều 203 Luật đất đai năm 2013;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26 và điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị N về việc “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất, yêu cầu tháo dỡ di dời tài sản trên đất” đối với bị đơn bà Nguyễn Thị M.
- Xác định quyền sử dụng đất diện tích 2,6m² (ký hiệu Khu B) thuộc một phần thửa 639, tờ bản đồ số 14 đất tọa lạc tại ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 359701, số vào sổ cấp giấy H05464 được Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An cấp cho bà Huỳnh Thị N ngày 28/8/2008 thuộc quyền sở hữu của bà Huỳnh Thị N.
- Buộc bà Nguyễn Thị M và ông Lê Văn Đ phải có trách nhiệm trả lại cho bà Huỳnh Thị N quyền sử dụng đất thuộc Khu B diện tích 2,6m² thuộc một phần thửa 639, tờ bản đồ số 14 đất tọa lạc tại ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 359701, số vào sổ cấp giấy H05464 được Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An cấp cho bà Huỳnh Thị N ngày 28/8/2008 thuộc quyền sở hữu của bà Huỳnh Thị N.
- Buộc bà Nguyễn Thị M và ông Lê Văn Đ phải có trách nhiệm tháo dỡ, di dời tài sản trên đất là 02 trụ cột xi măng trên vị trí ký hiệu Khu B diện tích 2,6m² thuộc một phần thửa 639, tờ bản đồ số 14 đất tọa lạc tại ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An để trả lại quyền sử dụng đất cho bà Huỳnh Thị N.
- Về chi phí đo đạc, định giá và thẩm định tại chỗ: Tổng cộng số tiền 21.400.000đồng. Nguyên đơn bà Huỳnh Thị N đã nộp và chi phí xong. Buộc và ông Lê Văn Đ phải có trách nhiệm liên đới hoàn lại số tiền 21.400.000đồng cho bà Huỳnh Thị N.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị M và ông Lê Văn Đ thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vị trí tứ cận, loại đất, chiều dài, chiều rộng, diện tích và tài sản trên đất của một phần thửa đất 639 (Khu B diện tích 2,6m² thuộc một phần thửa 639, tờ bản đồ số 14 đất tọa lạc tại ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; hàng rào lười B40 được xác định tại Chứng thư thẩm định giá số 325/07/08/2023/TĐGLA-BĐS ngày 07/8/2023 của Công ty cổ phần T1 và M3 trích đo địa chính số 232-2023 ngày 29/6/2023 được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ duyệt ngày 13/7/2023 kèm theo (đính kèm theo bản án).
Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
6. Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn bà Huỳnh Thị N do bà Lê Thị P là người đại diện hợp pháp theo ủy quyền, bị đơn bà Nguyễn Thị M, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn Đ có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đại diện Ủy ban nhân dân huyện Đ là ông Trần Phương B1 vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Văn Thàn |
Bản án số 183/2024/DS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ di dời tài sản trên đất
- Số bản án: 183/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ di dời tài sản trên đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Thị N "tranhy chấp quyền sử dụng đất" Nguyễn Thị M
