TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 183/2023/HNGĐ-ST
Ngày 28-8-2023.
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Huệ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đào Việt Khái.
Bà Đoàn Thị Sim.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Ngày 28 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 238/2023/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2023 về Ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 389/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thanh S, sinh năm 1987 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp B, xã V, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Chị Ngô Thị B, sinh năm 1989 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp B, xã V, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 28 tháng 6 năm 2023 cùng các văn bản khác kèm theo, nguyên đơn anh Nguyễn Thanh S trình bày: Anh và chị Ngô Thị B kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau vào ngày 21/01/2013. Trong quá trình chung sống giữa anh và chị B đã xảy ra nhiều mâu thuẫn do không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống nên thường xảy ra cự cải với nhau, mặc dù đã được gia đình hai bên hòa giải, hàn gắn nhiều lần nhưng vẫn không thành. Do cuộc sống hôn nhân giữa anh và chị B không còn hạnh phúc, mâu thuẫn giữa vợ chồng không thể hàn gắn được nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Ngô Thị B. Về con chung, có hai người tên là Nguyễn Thị Thanh T (giới tính nữ), sinh ngày 09 tháng 6 năm 2015 và Nguyễn Phúc L (giới tính nam), sinh ngày 28 tháng 11 năm 2012, hiện Nguyễn Thị Thanh T do chị B trực tiếp nuôi dưỡng, Nguyễn Phúc L do anh trực tiếp nuôi dưỡng nên khi ly hôn anh yêu cầu giao Nguyễn Thị Thanh T cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng, anh tiếp tục nuôi dưỡng Nguyễn Phúc L, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung tự thỏa thuận và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Ngô Thị B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do. Đồng thời, cũng không cung cấp lời khai, tài liệu, chứng cứ liên quan đến yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thanh S.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Việc anh Nguyễn Thanh S khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Ngô Thị B là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn chị Ngô Thị B cư trú tại ấp B, xã V, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn anh Nguyễn Thanh S vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Bị đơn chị Ngô Thị B đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Nguyễn Thanh S và chị Ngô Thị B là đúng theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân, anh S và chị B kết hôn và có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên hôn nhân giữa anh S và chị B là hôn nhân hợp pháp. Anh S yêu cầu ly hôn với chị B vì anh S cho rằng quá trình chung sống giữa anh S và chị B đã xảy ra nhiều mâu thuẫn do không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống nên thường xảy ra cự cải với nhau, mặc dù đã được gia đình hai bên hòa giải, hàn gắn nhiều lần nhưng vẫn không thành nên cuộc sống hôn nhân giữa anh S và chị B không còn hạnh phúc, mâu thuẫn giữa vợ chồng không thể hàn gắn được anh S yêu cầu được ly hôn với chị B. Quá trình giải quyết vụ án, chị B không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của anh S, cũng như không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa anh S và chị B đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chấp nhận cho anh S ly hôn với chị B là có căn cứ đúng theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung, anh S yêu cầu giao Nguyễn Thị Thanh T (giới tính nữ), sinh ngày 09 tháng 6 năm 2015 cho chị B tiếp tục nuôi dưỡng, anh S tiếp tục nuôi dưỡng Nguyễn Phúc L (giới tính nam), sinh ngày 28 tháng 11 năm 2012. Chị B không có ý kiến phản đối với yêu cầu về con chung của anh S. Xét thấy, Nguyễn Thị Thanh T hiện do chị B là người đang trực tiếp nuôi dưỡng, Nguyễn Phúc L hiện do anh S là người đang trực tiếp nuôi dưỡng, đồng thời Nguyễn Thị Thanh T cũng có nguyện vọng được sống với chị B, Nguyễn Phúc L có nguyện vọng được sống với anh S, do đó nhằm để ổn định về điều kiện môi trường sống và đảm bảo sự phát triển bình thường của con chưa thành niên. Từ đó, giao cho chị B tiếp tục nuôi dưỡng Nguyễn Thị Thanh T, giao anh S tiếp tục nuôi dưỡng Nguyễn Phúc L là phù hợp. Anh S và chị B không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.
[4] Anh S xác định tài sản chung tự thỏa thuận và nợ chung không có. Chị B không có ý kiến về những vấn đề trên nên không đặt ra xem xét.
[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, anh Nguyễn Thanh S phải chịu theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Áp dụng các Điều 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Nguyễn Thanh S ly hôn với chị Ngô Thị B.
- Về con chung, giao chị Ngô Thị B trực tiếp nuôi dưỡng Nguyễn Thị Thanh T (giới tính nữ), sinh ngày 09 tháng 6 năm 2015, anh Nguyễn Thanh S trực tiếp nuôi dưỡng Nguyễn Phúc L (giới tính nam), sinh ngày 28 tháng 11 năm 2012. Chị Ngô Thị B và anh Nguyễn Thanh S không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị Ngô Thị B và anh Nguyễn Thanh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, anh Nguyễn Thanh S phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0019034, ngày 28 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nên anh Nguyễn Thanh S đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hồng Huệ |
Bản án số 183/2023/HNGĐ-ST ngày 28/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 183/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Nguyễn Thanh S ly hôn với chị Ngô Thị B. 2. Về con chung, giao chị Ngô Thị B trực tiếp nuôi dưỡng Nguyễn Thị Thanh T (giới tính nữ), sinh ngày 09 tháng 6 năm 2015, anh Nguyễn Thanh S trực tiếp nuôi dưỡng Nguyễn Phúc L (giới tính nam), sinh ngày 28 tháng 11 năm 2012. Chị Ngô Thị B và anh Nguyễn Thanh S không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Chị Ngô Thị B và anh Nguyễn Thanh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
