|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 1826/2024/HNGĐ-ST Ngày: 14- 5-2024 V/v: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thu
2. Ông Bùi Quang Chính
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đoàn Thị Xuân, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Ngọc Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 2545/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2247/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/4/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Tô Thị Kim T, sinh năm 1991 ( có mặt)
Căn cước công dân: [...]
Địa chỉ: A đường E, tổ A, khu phố L, phường L, thành phố T.
Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc H, sinh năm 1988 ( vắng mặt)
Căn cước công dân: [...]
Địa chỉ: I N, tổ H, khu phố D, phường P, thành phố T.
NHẬN THẤY:
Trong đơn xin ly hôn ngày 16/6/2023 và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là bà Tô Thị Kim T trình bày:
Bà và ông Nguyễn Quốc H tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2016, có đăng ký kết hôn với nhau và được Ủy ban nhân dân phường L, Quận I nay thành phố T cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 06/2016 ngày 21/01/2016. Cuộc sống chung hạnh phúc bình thường đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, lối sống, thường hay cãi nhau, ông H bỏ nhà đi nơi khác sống từ thàng 02/2023 cho đến nay, không còn sự quan tâm đến nhau, tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Quốc H.
Về con chung: Bà và ông H có hai người con chung Nguyễn Ngọc Phương T1, sinh ngày 30/9/2016 và Nguyễn Ngọc Phương N, sinh ngày 04/02/2021. Ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai người con chung, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có.
Nợ chung: Không có.
Bị đơn là ông Nguyễn Quốc H dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa án để tham gia tố tụng cũng như không có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa: Bà Tô Thị Kim T vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Quốc H, yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai người con chung, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung. Tài sản chung và nợ chung không có.
Ông Nguyễn Quốc H vắng mặt tại phiên tòa.
Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật. Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định pháp luật. Đương sự có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Tô Thị Kim T. Bà T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Tô Thị Kim T và ông Nguyễn Quốc H đã được Ủy ban nhân dân phường L, Quận I cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 06/2016 ngày 21/01/2016. Bà T yêu cầu ly hôn với lý do cuộc sống chung giữa hai vợ chồng không hạnh phúc, có nhiều mâu thuẫn và ông Nguyễn Quốc H cư trú tại phường P, thành phố T. Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
- [2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là ông Nguyễn Quốc H dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông H theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
- [3] Về yêu cầu của đương sự:
- [3.1] Theo lời khai của bà T thì vợ chồng bà tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2016, có đăng ký kết hôn với nhau vào năm 2016. Từ năm 2023 đến nay đôi bên bất đồng về quan điểm, lối sống, sống ly thân, không còn sự quan tâm đến nhau, không còn tình cảm với nhau.
- Ngày 23 tháng 10 năm 2023, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức thụ lý vụ án hôn nhân gia đình do bà Tô Thị Kim T là người khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Quốc H. Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý và triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật cho ông H đến Tòa án để ghi lời khai, hòa giải nhưng ông H vẫn vắng mặt không có lý do, điều đó chứng tỏ ông S không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, chưa thực sự coi trọng tình nghĩa vợ chồng.
- Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 qui định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình...Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau...”
- Xét quá trình sống chung giữa đôi bên thực tế có xảy ra mâu thuẫn, không có sự thương yêu dẫn đến vợ chồng sống ly thân thời gian dài là vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc bà T yêu cầu được chấm dứt quan hệ hôn nhân với ông H là có cơ sở giải quyết.
- [3.2] Về con chung: Xét người con Nguyễn Ngọc Phương T1, sinh ngày 30/9/2016 có nguyện vọng ở với mẹ, người con và Nguyễn Ngọc Phương N, sinh ngày 04/02/2021 còn nhỏ, bà T có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng hai người con chung sau ly hôn, ông H không có ý kiến gì đối với yêu cầu này của bà T nên Hội đồng xét xử giao hai người con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T tự nguyện không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này.
- [3.4] Về tài sản chung: Bà T khai không có tài sản chung, ông H không có ý kiến về tài sản chung.
- [3.5] Về nợ chung: Bà T khai không có nợ chung. Ông H không có ý kiến về nợ chung.
- [4] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng bà Tô Thị Kim T phải nộp nhưng được cấn trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0005973 ngày 23/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 và khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 83, 84, 85 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Tô Thị Kim T được ly hôn ông Nguyễn Quốc H.
- Giấy chứng nhận kết hôn số 06/2016 ngày 21/01/20216 do Ủy ban nhân dân phường L, Quận I nay thành phố T cấp cho bà Tô Thị Kim T và ông Nguyễn Quốc H không còn giá trị pháp lý.
- - Về con chung: Giao hai người con chung Nguyễn Ngọc Phương T1, sinh ngày 30/9/2016 và Nguyễn Ngọc Phương N, sinh ngày 04/02/2021 cho bà Tô Thị Kim T trực tiếp nuôi dưỡng.
- Ghi nhận việc bà Tô Thị Kim T không yêu cầu ông Nguyễn Quốc H cấp dưỡng nuôi con chung.
- Không bên nào được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung. Vì quyền lợi mọi mặt của người con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con, hoặc hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc con của người không trực tiếp nuôi con.
- - Về tài sản chung: Không có.
- - Về nợ chung: Không có.
- Về án phí: 300.000 đồng bà Tô Thị Kim T phải nộp nhưng được cấn trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0005973 ngày 23/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Phương Thảo |
Bản án số 1826/2024/HNGĐ-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 1826/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà T yêu cầu ly hôn ông H, yêu cầu nuôi con chung
