| TÒA ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | NAM |
| Bản án số: 182/2024/HNGĐ-ST | Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
| Ngày: 30-5-2024 | |
| V/v Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Trần Văn Triều
2/ Bà Lê Thị Nhanh
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Tây – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 02/2024/TLST-HNGĐ ngày 02/01/2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2257/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyen Tuan Q, sinh năm 1948.
Địa chỉ: E M, T, CA 91356, USA.
Người đại diện hợp pháp nhận văn bản tố tụng của ông Q: Bà Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1998.
Địa chỉ: F H, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Bà Bùi Nhật H, sinh năm 1965.
Địa chỉ: E Q, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên hệ: 2 Đường số D, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Các đương sự vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nguyên đơn ông Nguyen Tuan Q trình bày:
Ông và bà Bùi Nhật H kết hôn vào năm 2022, theo giấy chứng nhận kết hôn số 193 do Ủy ban nhân dân quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/11/2022.
Sau khi kết hôn, hai bên không chung sống với nhau nhưng không tin tưởng, quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Ông và bà Bùi Nhật H đã nhiều lần tự hòa giải nhằm hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được. Nhận thấy hạnh phúc hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên ông yêu cầu Tòa án sớm giải quyết cho ông được ly hôn với bà Bùi Nhật H.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản tự khai ngày 26/4/2024, bị đơn bà Bùi Nhật H trình bày:
Bà và ông N Tuan Quang kết hôn vào năm 2022, theo giấy chứng nhận kết hôn số 193 do Ủy ban nhân dân quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/11/2022.
Về quá trình chung sống, mâu thuẫn vợ chồng bà thống nhất như trình bày của ông Nguyen Tuan Q. Hiện nay ông Nguyen Tuan Q đang yêu cầu ly hôn với bà tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên đối với yêu cầu của ông N Tuan Quang bà có ý kiến như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Bà đồng ý ly hôn với ông Nguyen Tuan Q
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được do bà H có yêu cầu tòa án không tiến hành hòa giải khi ly hôn.
Tại phiên tòa sơ thẩm: Nguyên đơn ông Nguyen Tuan Q, bị đơn bà Bùi Nhật H đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án :
Nguyên đơn ông Nguyen Tuan Q đang cư trú tại Hoa Kỳ có đơn xin ly hôn với bị đơn bà Bùi Nhật H đang cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37 ; Điều 38 ; Điều 40; Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 123 luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2] Về tố tụng:
Tòa án đã triệu tập hợp lệ các bên tham gia phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyen Tuan Q, bị đơn bà Bùi Nhật H đều có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ quy định tại Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ nên vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Nguyên đơn ông Nguyen Tuan Q, bị đơn bà Bùi Nhật H có đăng ký kết hôn vào năm 2022, theo giấy chứng nhận kết hôn số 193 do Ủy ban nhân dân quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/11/2022, nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Theo ông Nguyen Tuan Q và bà Bùi Nhật H trình bày: Sau khi kết hôn, hai bên không chung sống hạnh phúc với nhau, hai bên đã nhiều lần tự hòa giải nhằm hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được, qua một thời gian nói chuyện thì hai bên đã thống nhất ly hôn. Hiện nay, hai bên đã sống ly thân, không ai còn quan tâm đến đời sống của ai dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, việc hàn gắn là không thể thực hiện được.
Ông Nguyen Tuan Q nhận thấy không còn tình cảm với bà Bùi Nhật H, hôn nhân không hạnh phúc nên yêu cầu được ly hôn để ổn định cuộc sống. Về phía bà Bùi Nhật H có bản tự khai đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông Nguyen Tuan Q.
Xét thấy, vợ chồng có quyền, nghĩa vụ yêu thương, tôn trọng và cùng có trách nhiệm quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, xây dựng gia đình hạnh phúc, đây cũng là mục đích của hôn nhân. Do vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, điều kiện địa lý khách quan nên thực tế vợ chồng bà Bùi Nhật H, ông Nguyen Tuan Q đã không còn chung sống với nhau dẫn đến mâu thuẫn, bất đồng càng kéo dài, cả hai đã cố gắng hàn gắn nhưng không có kết quả, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông Nguyen Tuan Q xin ly hôn và Bùi Nhật H đồng ý thuận tình ly hôn là có cơ sở, phù hợp quy định của pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Hai bên xác định không có, nên không xét.
[4] Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn: 300.000 đồng nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
[5] Về quyền kháng cáo: Ông Nguyen Tuan Q và bà Bùi Nhật H được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 40; Điều 147; Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 273; Điều 469; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 122; Điều 123; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016.UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ luật Thi hành án dân sự 2008 đã sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Tuyên xử :
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyen Tuan Q.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyen Tuan Q và bà Bùi Nhật H thuận tình ly hôn.
- Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí và thi hành án:
Thi hành dưới sự giám sát của cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn: 300.000₫ (ba trăm nghìn), ông Nguyen Tuan Q phải chịu nhưng được khấu trừ vào số tiền ông Nguyen Tuan Q đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số AA/2023/0001285 ngày 27/12/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Nguyen Tuan Q đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
3. Ông Nguyen Tuan Q được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Bà Bùi Nhật H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thu Phương |
Bản án số 182/2024/HNGĐ-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 182/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tuấn Q
