| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 182/DS-ST |
| Ngày: 28/6/2024 |
| V/v "Tranh chấp |
| hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông: Nguyễn Đình Rành;
- Bà: Hồ Thị Lệ Thu.
Thư ký phiên tòa: Trần Thị Thanh –Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mộng Tuyền - Kiểm sát viên.
Ngày 28/6/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 7, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 34/2024/TLST-DS ngày 17/012024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 194/2024/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 140/2024/QĐST, ngày 11 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ban K Co.LTD; Trụ sở: No.36 Nanking E.Road, S.3, Đ, Đài Loan, Trung Quốc; địa chỉ liên hệ: Tầng I, một phần tầng 12, tòa nhà F, số C đường L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Ông TSAO, WEI-THYR - chức vụ: Chủ tịch.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lữ Thái Hoàng Q; Sinh năm 1993; Địa chỉ: Tầng I, F, C L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh - Là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 02/UQ-BSP.HCM.23 ngày 18/10/2023) – có mặt
Bị đơn: Ông Cao Xuân H, sinh năm: 1985; Địa chỉ: 1 C, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: A2.19.11 Chung cư E, Khu phố B, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh- vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 18 tháng 10 năm 2023, các Bản tự khai, Biên bản phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải của ông Lữ thái Hoàng Q1 người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn B1 Co.LTD trình bày:
Ngày 28/12/2021 Ngân hàng S1 – Chi nhánh Thành phố H (gọt tắt là ngân hàng) cấp khoản vay cho ông Cao Xuân H căn cứ theo: Thỏa thuận cho vay cá nhân số 21128PL, chi tiết như sau:
- Số tiền cho vay : 794.000.000 (B trăm chín mươi bốn triệu) đồng
- Thời hạn cho vay: 60 tháng (từ ngày 28/12/2021 đến ngày 28/12/2026)
- Mục đích cho vay: Sửa nhà
- Phương thức giải ngân: Giải ngân vào tài khoản số 070-008-0003031-6 của ông Cao Xuân H mở tại Ngân hàng S1 - Chi nhánh T
- Lãi suất trong hạn: cố định 12%/năm từ ngày giải ngân
- Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn
- Lãi suất phạt chậm trả lãi: 10%/năm
Trong quá trình thực hiện thỏa thuận cho vay cá nhân, ông Cao Xuân H đã trả được cho Ngân hàng số tiền: 160.850.266 sau đó vi phạm nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng. Do đó, căn cứ thỏa thuận giữa hai bên về việc chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn và chuyển nợ quá hạn, thì ngày 20/9/2023, Ngân hàng ra Thông báo thu hồi nợ trước hạn đối với toàn bộ khoản vay của Thỏa thuận cho vay cá nhân nêu trên.
Tính đến ngày 01/12/2023, ông Cao Xuân H còn nợ Ngân hàng tổng cộng 815.695.017 đồng, trong đó:
- Nợ gốc: 696.999.341 đồng
- Lãi trong hạn: 90.103.550 đồng
- Lãi quá hạn: 22.959.024 đồng
- Lãi phạt: 5.633.101 đồng
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết buộc:
- Ông Cao Xuân H trả ngay cho Ngân hàng tổng số nợ còn thiếu tính đến ngày 28/6/2024 là 894.074.447 đồng (Bằng chữ: Tám trăm chín mươi bốn triệu, không trăm bảy mươi bốn nghìn, bốn trăm bốn mươi bảy đồng), trong đó gồm: vốn gốc 696.999.341 đồng, lãi trong hạn 90.103.550 đồng, lãi quá hạn 95.138.167 đồng, lãi phạt 11.933.389 đồng.
- Buộc ông Cao Xuân H còn phải tiếp tục trả tiền lãi, lãi phạt phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Thỏa thuận cho vay cá nhân nêu trên của Ngân hàng kể từ ngày 29/6/2024 đến ngày trả hết nợ.
Bị đơn ông Cao Xuân H: Đã được Tòa án tiến hành tống đạt và niêm yết hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại Tòa nhưng không đến làm việc và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình. Vì vậy, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn. Tòa án cũng tiến hành tống đạt và niêm yết hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 194/2024/QĐXXST- DS ngày 13 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 140/2024/QĐST, ngày 11 tháng 6 năm 2024 nhưng ông Cao Xuân H vẫn vắng mặt tại phiên tòa hôm nay.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Về nội dung, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về án phí dân sự: Bị đơn ông Cao Xuân H phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án;
Sau khi nghe kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 phát biểu quan điểm;
Hội đồng xét xử thảo luận những vấn đề cần giải quyết trong vụ án;
[1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án và thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết:
Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn là ông Cao Xuân H phải trả số tiền còn nợ theo bản thỏa thuận cho vay cá nhân được các bên ký kết ngày 28/12/2021 nên đây là tranh chấp về giao dịch dân sự hợp đồng vay tài sản quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015. Theo kết quả xác minh của Công an phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh thì “ông Cao Xuân H hiện đang tạm trú và đang thực tế cư trú tại địa chỉ A Chung cư E, khu phố B, phương P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh”. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh theo Khoản 3 Điều 26, Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[1.2] Về chứng cứ và nghĩa vụ chứng minh: Tại Khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn không có ý kiến phản hồi và không phản bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu chứng cứ gì, vắng mặt không có lý do. Căn cứ Khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì bị đơn ông Cao Xuân H đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình qua việc không đến Tòa tham gia tố tụng, phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án giải quyết vụ việc trên theo những chứng cứ có trong hồ sơ.
[1.2] Về tố tụng:
Bị đơn ông Cao Xuân H đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án gồm: Giấy triệu tập tham gia phiên tòa, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa; tuy nhiên bị đơn vắng mặt không lý do; nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt Bị đơn theo quy định tại Khoản 1 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Nguyên đơn Ngân hàng S1 – Chi nhánh Thành phố H yêu cầu Tòa án buộc ông Cao Xuân H phải thanh toán cho Ngân Hàng toàn bộ số tiền nợ gốc là 696.999.341 đồng (sáu trăm chín mươi sáu triệu, chín trăm chín mươi chín nghìn, ba trăm bốn mốt).
Xét thấy: Ngân hàng S1 – Chi nhánh Thành phố H hoạt động trong các lĩnh vực theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một Thành Viên (Mã số doanh nghiệp: 0303327614) của Sở Kế hoạch và đầu tư Thành phố H. Căn cứ bản thỏa thuận cho vay cá nhân được ký kết ngày 28/12/2021 giữa Ngân hàng S1 – Chi nhánh Thành phố H với ông Cao Xuân H thì xác định Ngân hàng cấp hạn mức tín dụng cho ông Cao Xuân H với số tiền 794.000.000 đồng (bảy trăm chín mươi bốn triệu), mức lãi suất 12%/năm, mục đích vay: sửa nhà. Xét, chủ thể ký kết, nội dung và hình thức hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 117, Điều 118, Điều 119 và điểm b Khoản 1 Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng nên buộc các bên phải thực hiện theo thỏa thuận Hợp đồng.
Thực hiện Hợp đồng, ông Cao Xuân H đã được giải ngân đầy đủ số tiền vào tài khoản của ông theo số 070-008-0003031-6 được mở tại Ngân hàng S1. Căn cứ vào bản sao kê lịch sử thanh toán nguyên đơn cung cấp cho thấy tính đến ngày 25/12/2023 ông Cao Xuân H đã thanh toán cho Ngân hàng tổng cộng số tiền là 160.850.266 đồng và sau đó ngưng thanh toán cho đến nay. Như vậy, ông Cao Xuân H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên nguyên đơn Ngân hàng S1 yêu cầu ông Cao Xuân H phải trả số tiền nợ gốc như trên là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.2] Ngân hàng S1 – Chi nhánh Thành phố H yêu cầu ông Cao Xuân H phải trả số tiền lãi tạm tính đến 28/6/2024 bao gồm lãi trong hạn là 90.103.550 đồng (chín mươi triệu một trăm lẻ ba nghìn năm trăm năm mươi), lãi quá hạn là 95.138.167 đồng (chín mươi lăm triệu, một trăm ba mươi tám nghìn, ba trăm tám chín); lãi chậm trả là: 11.933.389 đồng (mười một triệu, chín trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm tám mươi chín) và tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận trong bảng thỏa thuận cho vạy cá nhân, tính từ ngày 29/6/2024 đến khi trả hết nợ.
Ngân hàng S1 có chức năng hoạt động tín dụng theo Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng và phần lãi suất do các bên thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện và căn cứ Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
[2.3] Về thời gian trả nợ: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền gốc và lãi tính đến hết ngày 28/6/2024 là 894.074.447 đồng (tám trăm chín mươi bốn triệu, không trăm bảy mươi bốn nghìn, bốn trăm bốn mươi bảy đồng), tất cả trả làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Xét yêu cầu của nguyên đơn không trái quy định pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.
Từ những lý lẽ đã viện dẫn trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do bị đơn có nghĩa vụ phải trả nợ cho nguyên đơn nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả theo quy định của pháp luật.
Nguyên đơn Ngân hàng S1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. H1 lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.
[4] Quyền kháng cáo: Ngân hàng S1, ông Cao Xuân H có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 3 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 91; Điều 147; Khoản 1 Điều 207; Điều 227; Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 357, Điều 466, Điều 468 và điểm b Khoản 1 Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
- Căn cứ Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng;
- Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
- Căn cứ Luật Thi hành án Dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Xử:
1. Về hình thức: Xử vắng mặt bị đơn ông Cao Xuân H.
2. Về nội dung:
2.1. Buộc bị đơn ông Cao Xuân H phải trả cho nguyên đơn Ngân hàng B2 Sinopac CO. LTD tổng số tiền là 894.074.447 đồng (tám trăm chín mươi bốn triệu, không trăm bảy mươi bốn nghìn, bốn trăm bốn mươi bảy đồng); trong đó: nợ gốc là 696.999.341 đồng (sáu trăm chín mươi sáu triệu, chín trăm chín mươi chín nghìn, ba trăm bốn mốt); tiền lãi tính đến ngày 28/6/2024 là 197.175.106 đồng (một trăm chín bảy triệu, một trăm bảy mươi lăm nghìn, một trăm lẻ sáu đồng).
Trả làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực thi hành. Thi hành tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
2.2. Kể từ ngày 29/6/2024 ông Cao Xuân H còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong bản thỏa thuận cho vay cá nhân ký ngày 28/12/2021 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Cao Xuân H phải chịu 38.822.233 đồng (ba mươi tám triệu, tám trăm hai mươi hai nghìn, hai trăm ba mươi ba), nộp tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Hoàn trả lại cho Ngân hàng S1 Co.LTD số tiền án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 17.083.192 đồng (mười bảy triệu, không trăm tám mươi ba nghìn, một trăm chín mươi hai) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0044863, ngày 08/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 1.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
4. Án xử công khai, tuyên án vắng mặt bị đơn.
Ngân hàng S1 Co. LTD có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông Cao Xuân H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận: - TAND TPHCM; - VKSND Tp. HCM; - VKSND Q7; - Chi cục THADS Q7; - Các đương sự; - Lưu, hồ sơ. (TK. Thanh) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Trang |
Bản án số 182/DS-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 182/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yc nguyên đon
