Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 182/2024/DS-ST

Ngày: 27/8/2024

“V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Cảm

2. Ông Trương Vĩnh Mai

- Thư ký phiên tòa: Ông Y Kăn Niê – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Diễm Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2024/TLST-DS ngày 15 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 203/2024/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 7 năm 2024 giữa:

  1. Nguyên đơn: Bà Trương Thị Tuyết V – Sinh năm 1979 (Vắng mặt)

    Địa chỉ: Thôn Đoàn Kết 1, xã EaTih, huyện EaKar, tỉnh ĐắkLắk

    Người đại diện theo ủy quyền của bà Trương Thị Tuyết V: Ông Nguyễn Trung S – Sinh năm 1983 (Có mặt)

    Địa chỉ: Số A đường N nối dài, phường T, thành B, tỉnh ĐắkLắk.

  2. Bị đơn: Ông Lê Trường V1 – Sinh năm 1985 (Vắng mặt)

    Địa chỉ: Số nhà A L, Tổ dân phố B, phường T, thành phố B, tỉnh ĐắkLắk.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị V2 – Sinh năm: 1978 (Vắng mặt)

    Địa chỉ: Tổ dân phố D, T, huyện E, tỉnh ĐắkLắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trương Thị Tuyết V và người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Trung S trình bày:

Ông Lê Trường V1 là cháu họ của bà Trương Thị Tuyết V. Năm 2022 ông V1 đề nghị mượn tiền của bà V. Việc mượn tiền được các bên thỏa thuận miệng. Ngày 25/8/2022, bà V chuyển khoản số tiền 50.000.000 đồng từ tài khoản 6320595636 của ngân hàng thương mại cổ phần Đ, chủ tài khoản bà Trương Thị Tuyết V đến số tài khoản 5200205977910 của Ngân hàng N, chủ tài khoản ông Lê Trường V1. Đến ngày 19/10/2022, ông V1 có nói với bà V là cho ông m thêm số tiền 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu) để ông V1 đáo hạn ngân hàng rồi ông V1 vay ra thì ông V1 trả hết cho bà V. Việc vay thêm tiền thỏa thuận bằng miệng. Bà V có nhờ bà Phạm Thị V2 chuyển khoản cho ông V1 số tiền 130.000.000 đồng. Bà V2 dùng số tài khoản 63210000270438 của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ, chủ tài khoản bà Phạm Thị V2 để chuyển số tiền 130.000.000 đồng vào số tài khoản 5200205977910 của Ngân hàng N, chủ tài khoản ông Lê Trường V1. Bà V đã trả số tiền 130.000.000 đồng cho bà V2 nên bà V, bà V2 không có yêu cầu gì. Việc bà V cho ông V1 vay tiền không thỏa thuận lãi suất, cũng không thế chấp tài sản gì đảm bảo cho khoản vay. Mặc dù đã đòi nhiều lần nhưng ông V1 không trả tiền cho bà V. Ngày 04/10/2023 ông V1 viết giấy xác nhận nợ bà Trương Thị Tuyết V với nội dung: ông m bà V số tiền 180.000.000 đ (Một trăm tám mươi triệu đồng), hẹn ngày 05/10/2023 sẽ trả 50.000.000 đồng nhưng đến nay ông V1 vẫn chưa trả nợ cho bà V. Việc vay mượn tiền là do ông V1 trực tiếp đề nghị vay tiền của bà V và ông V1 là người nhận tiền vào tài khoản ngân hàng của ông V1 nên bà V chỉ yêu cầu một mình ông V1 có trách nhiệm trả nợ cho bà V. Nay bà Trương Thị Tuyết V đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột buộc ông Lê Trường V1 trả số tiền gốc là 180.000.000 đồng (Một trăm tám mươi triệu đồng) cho bà Trương Thị Tuyết V và bà Trương Thị Tuyết V không yêu cầu ông Lê Trường V1 trả tiền lãi.

* Quá trình làm việc tại Tòa án bà Phạm Thị V2 trình bày:

Phạm Thị V2 và bà Trương Thị Tuyết V có mối quan hệ là bạn bè với nhau. Ngày 19/10/2022, bà V có nhờ bà Phạm Thị V2 chuyển khoản cho ông Lê Trường V1 số tiền 130.000.000 đồng (Số tài khoản chuyển: 63210000270438, Ngân hàng TMCP Đ, chủ tài khoản bà Phạm Thị V2; Số tài khoản nhận: 5200205977910-Ngân hàng N, chủ tài khoản ông Lê Trường V1). Bà V chỉ nói với bà Phạm Thị V2 là chuyển khoản giùm chứ bà Phạm Thị V2 không biết là tiền gì. Bà Phạm Thị V2 không có mối quan hệ gì với ông Lê Trường V1, cũng không biết ông V1 là ai. Bà Phạm Thị V2 và ông Lê Trường V1 không có quan hệ vay mượn tiền gì. Nay bà V khởi kiện ông Lê Trường V1 yêu cầu ông V1 phải trả cho bà V số tiền 180.000.000 đồng trong đó có 130.000.000 đồng mà bà V nhờ bà Phạm Thị V2 chuyển khoản cho ông V1 ngày 19/10/2022 thì bà Phạm Thị V2 xác nhận là đúng sự việc như bà V trình bày. Bà Trương Thị Tuyết V cũng đã chuyển khoản trả cho bà Phạm Thị V2 số tiền 130.000.000 đồng mà bà V nhờ chuyển khoản nói trên. Do đó bà V2 không có yêu cầu gì đối với bà V.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng, triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do nên không thể tiến hành lấy lời khai của bị đơn.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột phát biểu ý kiến như sau: Về tố tụng: Quá trình điều tra, thu thập chứng cứ của vụ án từ khi thụ lý đến khi xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 220, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 264, Điều 266, Điều 267, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Tuyết V. Buộc ông Lê Trường V1 có nghĩa vụ trả cho bà Trương Thị Tuyết V số tiền nợ gốc là 180.000.000 đồng và bà Trương Thị Tuyết V không yêu cầu tính lãi. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, chi phí giám định chữ ký, chữ viết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn bà Trương Thị Tuyết V khởi kiện bị đơn ông Lê Trường V1 – địa chỉ: Số nhà A L, tổ dân phố B, phường T, thành phố B, tỉnh ĐắkLắk về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn ông Lê Trường V1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt nên Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai, tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải được. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Tuyết V khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Lê Trường V1 phải trả cho bà Trương Thị Tuyết V số tiền gốc là 180.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi.

Quá trình giải quyết vụ án, ông Lê Trường V1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án làm việc. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã có đơn đề nghị Tòa án trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của ông Lê Trường V1 trong giấy xác nhận nợ đề ngày 04/10/2023. Kết luận giám định số 673/KL-KTHS ngày 04/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận Chữ ký, chữ viết Lê Trường V1 trong Giấy xác nhận nợ đề ngày 04/10/2023 là chữ ký, chữ viết của ông Lê Trường V1.

Công văn số 337/BIDV.ÐÐL-QLRR ngày 01/6/2024 của ngân hàng thương mại cổ phần Đ Chi nhánh Đ1 xác nhận số tài khoản 6320595636, chủ tài khoản Trương Thị Tuyết V có giao dịch báo nợ ngày 25/8/2022 số tiền 50.000.000 đồng tài khoản thụ hưởng mở tại ngân hàng N; giao dịch báo nợ ngày 19/10/2022 số tiền 130.000.000 đồng, tài khoản thụ hưởng 63210000270438 mở tại ngân hàng thương mại cổ phần Đ, chủ tài khoản Phạm Thị V2.

Công văn số 1620/NHNo.ĐL-KTKSNB ngày 13/6/2024 của Ngân hàng N Chi nhánh tỉnh Đ1 xác nhận số tài khoản 5200205977910, chủ tài khoản Lê Trường V1, căn cước công dân số [...] do Cục C về TTXH cấp ngày 08/7/2021, Địa chỉ: Tổ dân phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk có giao dịch báo có số tiền 50.000.000 đồng ngày 25/8/2022.

Công văn số 1857/NHNo.ĐL-KTKSNB ngày 28/6/2024 của Ngân hàng N Chi nhánh tỉnh Đ1 xác nhận số tài khoản 5200205977910, chủ tài khoản Lê Trường V1, Địa chỉ: Tổ dân phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk có giao dịch báo có số tiền 130.000.000 đồng ngày 19/10/2022 nhận từ số tài khoản 63210000270438 của ngân hàng thương mại cổ phần Đ của chủ tài khoản “PHAM THỊ VINH”.

Như vậy việc bà Phạm Thị V2 trình bày ngày 19/10/2022 bà V có chuyển khoản cho bà V2 130.000.000 đồng nhờ bà V chuyển khoản cho ông Lê Trường V1 có số tài khoản 5200205977910 của Ngân hàng N là có căn cứ và bà V2 không có yêu cầu gì nên không đặt ra để giải quyết.

Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ xác định ông Lê Trường V1 có vay bà Trương Thị Tuyết V số tiền gốc là 180.000.000 đồng. Tuy nhiên, đến nay ông V1 vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho bà V là vi phạm hợp đồng nên cần buộc ông V1 phải có trách nhiệm trả cho bà V số tiền gốc là 180.000.000 đồng là phù hợp. Bà V không yêu cầu tính lãi.

[4] Về chi phí giám định chữ ký, chữ viết: Do yêu cầu của nguyên đơn bà Trương Thị Tuyết V được chấp nhận nên bị đơn ông Lê Trường V1 phải chịu chi phí giám định chữ ký, chữ viết là 4.860.000 đồng. Bà Trương Thị Tuyết V được nhận lại 4.860.000 đồng tiền tạm ứng chi phí giám định chữ ký, chữ viết sau khi thu được của ông Lê Trường V1.

[4] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 9.000.000 đồng. Nguyên đơn bà Trương Thị Tuyết V không phải chịu án phí dân sự và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 4.500.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2023/0005078 ngày 05/01/2024.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 161, Điều 220, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Tuyết V.

Buộc ông Lê Trường V1 có nghĩa vụ phải trả cho bà Trương Thị Tuyết V số tiền 180.000.000 đồng (Một trăm tám mươi triệu đồng). Bà V không yêu cầu tính lãi.

Về chi phí giám định chữ ký, chữ viết: Bị đơn ông Lê Trường V1 phải chịu chi phí giám định chữ ký, chữ viết là 4.860.000 đồng. Bà Trương Thị Tuyết V được nhận lại 4.860.000 đồng tiền tạm ứng chi phí giám định chữ ký, chữ viết sau khi thu được của ông Lê Trường V1.

Về án phí: Bị đơn ông Lê Trường V1 phải chịu 9.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn bà Trương Thị Tuyết V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 4.500.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2023/0005078 ngày 05/01/2024.

Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Lắk ;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND TP.BMT;
  • - CCTHADS TP.BMT;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 182/2024/DS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 182/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: VAY TÀI SẢN
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger