Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DẦU TIẾNG

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 182/2024/DS-ST

Ngày: 25-9-2024

V/v tranh chấp

quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Tuyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Liêm;
  2. Ông Trương Hữu Bình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 107/2024/TLST-DS ngày 28 tháng 02 năm 2024 về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 182/2024/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn R, sinh năm 1967. HKTT: Số A, đường Đ, khu phố B, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Bị đơn: Bà Nguyễn Kim P, sinh năm 1961. HKTT: Tổ G, khu phố G, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của bà P: Ông Nguyễn Hữu N, sinh năm 1967. Địa chỉ: Số A, khu phố C, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương là người đại diện theo uỷ quyền (hợp đồng uỷ quyền ngày 11/6/2024).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1972. HKTT: Khu phố B, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Ông Nguyễn Quang T, sinh năm 1983. HKTT: Khu phố G, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Ông Nguyễn Quang Đ, sinh năm 1988. HKTT: Khu phố G, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Người làm chứng:

Ông Nguyễn Văn P1, sinh năm 1964. Nơi cư trú: Số C, đường V, khu phố G, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Ông Phạm Xuân N1, sinh năm 1958. Nơi cư trú: Số D, đường P, khu phố A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Bà Đỗ Thị Kim L, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Số C, đường V, khu phố G, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Bà Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1963. Nơi cư trú: Khu phố G, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Ông Trần Văn T1, sinh năm 1961. Nơi cư trú: Khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Bà Lý Ngọc A, sinh năm 1967. Nơi cư trú: Khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn, đại diện bị đơn có mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, khởi kiện bổ sung, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Văn R trình bày:

Thửa đất số 377, thửa đất số 242, tờ bản đồ số 26, toạ lạc tại khu phố G, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương do vợ chồng ông R mua từ khoảng năm 2015. Thửa 242 vợ chồng ông R mua từ bà Đặng Thị Hồng N2, với giá 600.000.000 đồng. Thửa 377 vợ chồng ông R mua của ông Trần Văn T1, giá 130.000.000 đồng. Nguồn tiền chuyển nhượng là của hai vợ chồng ông R nhưng để cho ông R đứng ra giao dịch và đứng tên trên giấy chứng nhận.

Thửa 242 khi mua là đất trống, ông R trồng tre trên đất cho đến nay. Còn thửa 377 thì ông R cho người cháu tên Trần Kim P2, sinh năm 1982. HKTT: Khu phố G, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương xây nhà ở trên đất từ năm 2018 cho đến nay. Khi ông R mua đất thì đã đo đạc thực tế, yêu cầu bà P ra ký liên ranh và đã cắm trụ ranh xác định ranh đất. Ranh đất phía giáp đường là trụ giáp với bức tường bằng đá ong của bà P, phía sau là trụ ranh của 03 thửa đất (trụ này các bên đã thống nhất không tranh chấp). Năm 2017, ông R làm hàng rào trụ bê tông, kéo 03 sợi dây kẽm gai. Lúc ông làm hàng rào, ông R không kêu bà P ra vì ông R chỉ làm hàng rào bên đất của ông R, không làm sát ranh vì ranh đất nằm ở vị trí đất sâu. Do trước khi mua đất đã có đường mương thoát nước không biết ai đào, nên khi làm hàng rào ông R buộc phải làm trên bờ mương, còn ranh đất đã được xác định như đã nêu ở trên. Phần hàng rào mới kẹp với hàng rào mà ông R xậy dựng theo ông R biết là của bà P nhờ người dựng nên sau khi biết và xảy ra cãi vã khi ông R làm thủ tục cắm mốc để mua đất thổ cư năm 2023. Bà P làm hàng rào không được sự đồng ý của ông R, ông R đã làm đơn yêu cầu chính quyền giải quyết rồi sau đó tranh chấp ra Toà án.

Theo đơn khởi kiện ban đầu, ông R yêu cầu bà P phải trả lại phần đất có diện tích 10m² thuộc một phần thửa đất số 377, tờ bản đồ số 26, toạ lạc tại khu phố G, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương; yêu cầu bà P phải trả lại phần đất có diện tích 40m² thuộc một phần thửa đất số 242, tờ bản đồ số 26, toạ lạc tại khu phố G, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Theo đơn khởi kiện bổ sung, ông R yêu cầu bà P phải trả lại phần đất có diện tích 3,9m² tăng thêm theo đo đạc thực tế thuộc một phần thửa đất số 377, tờ bản đồ số 26, toạ lạc tại khu phố G, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương; yêu cầu bà P phải trả lại phần đất tăng thêm có diện tích 3,5m² theo đo đạc thực tế thuộc một phần thửa đất số 242, tờ bản đồ số 26, toạ lạc tại khu phố G, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Tại phiên toà, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu tranh chấp phần đất có tổng diện tích 57,4m² theo kết quả đo đạc thực tế.

Nguyên đơn thống nhất với kết quả đo đạc, thẩm định theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 22/3/2024 của Toà án nhân dân huyện Dầu Tiếng và M trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý (tranh chấp) số: 243-2024 ngày 10/5/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D, phần đất tranh chấp có tổng diện tích 57,4m² toạ lạc tại khu phố G, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương, kết quả định giá theo biên bản định giá ngày 19/6/2024 của Toà án nhân dân huyện Dầu Tiếng.

Ngoài ra, nguyên đơn không có yêu cầu gì khác.

* Theo bản tự khai, biên bản lấy lời khai, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, đại diện bị đơn ông Nguyễn Hữu N trình bày:

Phần đất của bị đơn có nguồn gốc do khai phá năm 1985. Khi khai phá bị đơn trồng điều, sau đó phá điều trồng cao su như hiện nay. Ranh đất phía giáp thửa 242, thửa 377 không có hàng rào, chỉ đường mương thoát nước do phía bị đơn đào khi trồng cây cao su (đường mương móc trên đất của bị đơn). Bờ kè bằng đá ong cũng do phía bị đơn xây dựng (xây dựng sau con mương) để dẫn nước vào mương vào mương cho nước khỏi tràn ra phá đất. Phía nguyên đơn mua đất sau này và làm hàng rào bê tông kẽm gai cho đến nay. Cuối năm 2023, bị đơn sợ nguyên đơn di dời hàng rào của nguyên đơn nên đã làm hàng rào cặp vào hàng rào nguyên đơn như hiện trạng.

Bị đơn xác định ranh đất giữa hai bên là ngay vị trí giữa hai hàng rào mà hai bên đã xây dựng.

Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì phần đất tranh chấp tổng diện tích 57,4m² theo kết quả đo đạc thực tế là thuộc quyền sử dụng đất của bị đơn.

Bị đơn thống nhất với kết quả đo đạc, thẩm định theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 22/3/2024 của Toà án nhân dân huyện Dầu Tiếng và M trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý (tranh chấp) số: 243-2024 ngày 10/5/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D, phần đất tranh chấp có tổng diện tích 57,4m² toạ lạc tại khu phố G, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương, kết quả định giá theo biên bản định giá ngày 19/6/2024 của Toà án nhân dân huyện Dầu Tiếng.

Ngoài ra, bị đơn không có yêu cầu gì khác.

* Theo biên bản lấy lời khai và quá trình tham gia tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh H trình bày:

Ông Nguyễn Văn R là chồng của bà H. Ông R và bà H chung sống với nhau từ năm 1991, đăng ký kết hôn năm 2002. Quá trình chung sống ông R và bà H có 02 người con chung: Nguyễn Hoàng N3, sinh năm 1993, Nguyễn Hoàng Nhật N4, sinh năm 2003. Các con của bà H không liên quan đến các phần đất này. Còn bà P là người sử dụng đất liền kề với đất của vợ chồng bà H mua. Thửa đất số 377, thửa đất số 242, tờ bản đồ số 26, toạ lạc tại khu phố G, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương do vợ chồng bà H mua từ khoảng năm 2015. Thửa 242 ông R và bà H mua từ bà Đặng Thị Hồng N2, với giá 600.000.000 đồng. Thửa 377 ông R và bà H mua của ông Đặng Văn T2, giá 130.000.000 đồng. Nguồn tiền chuyển nhượng là của hai vợ chồng ông R và bà H nhưng để cho ông R đứng ra giao dịch và đứng tên trên giấy chứng nhận. Thửa 242 khi mua là đất trống, ông R và bà H trồng tre trên đất cho đến nay. Còn thửa 377 thì ông R và bà H cho người cháu tên Trần Kim P2, sinh năm 1982. HKTT: Khu phố G, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương xây nhà ở trên đất từ năm 2018 cho đến nay. Khi ông R và bà H mua đất thì đã đo đạc thực tế, yêu cầu bà P ra ký liên ranh và đã cắm trụ ranh xác định ranh đất. Ranh đất phía giáp đường là trụ giáp với bức tường bằng đá ong của bà P, phía sau là trụ ranh của 03 thửa đất (trụ này các bên đã thống nhất không tranh chấp). Bà H thống nhất với yêu cầu và ý kiến của ông R.

* Theo biên bản lấy lời khai, đơn xin giải quyết vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quang T, ông Nguyễn Quang Đ thống nhất trình bày:

Ông T, ông Đ là con của bà P. Phần đất thuộc thửa 203, 204 toạ lạc tại khu phố G, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương là do bà P khai phá. Hai ông chỉ đứng chung trong hộ khẩu gia đình chứ không có liên quan đến các phần đất này. Mọi việc quyết định là theo ý kiến của bà P.

* Theo biên bản xác minh, người làm chứng ông Trần Văn T1 trình bày:

Năm 2015, ông T1 có chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn R một phần đất thuộc thửa 377 toạ lạc tại khu phố G, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương, giá chuyển nhượng không nhớ rõ. Ông R mua phần đất này để làm lối ra cho

phần đất phía trong của ông R, còn ông T1 muốn bán phần đất này đi để đất còn lại của ông T1 vuông vắn hơn. Phần đất thửa 377 có giáp ranh với đất do bà Nguyễn Kim P sử dụng; ranh đất theo ông T1 nhớ là ngay vị trí giáp bức tường đá ong của gia đình bà P đã xây dựng từ lâu. Khi ông T1 chuyển nhượng cho ông R thì có tiến hành đo đạc thực tế, có kêu các bên liên ranh ra chỉ ranh đất và ký xác nhận liên ranh trong đó có bà Nguyễn Kim P. Hiện nay ông T1 không còn liên quan đến thửa đất 377 nữa, ông T1 xin vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng của Toà án.

* Theo biên bản xác minh, người làm chứng bà Lý Ngọc A trình bày:

Bà Lý Ngọc A là người đứng tên quyền sử dụng đất và đang quản lý sử dụng thửa đất 336 toạ lạc tại khu phố G, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương giáp ranh với thửa đất 242 của ông R và đất của bà Nguyễn Kim P. Ranh đất giữa đất của bà A với đất của ông R, bà P đã được cắm trụ bê tông xác định trên thực tế. Theo bà A biết thì đất của gia đình bà P là do khai phá, còn đất của ông R là do ông R nhận chuyển nhượng từ người khác. Ranh giới sử dụng đất giữa hai bên thì bà A không nắm được. Bà A xin vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng của Toà án.

* Theo biên bản lấy lời khai, người làm chứng bà Nguyễn Thị Kim C trình bày:

Bà C hàng xóm và là người sử dụng đất giáp ranh với đất ông R. Phần đất mà ông R mua của ông T1 thuộc thửa 377 có nguồn gốc là do gia đình bà C khai phá sau đó bán lại cho ông T1. Bà C đã sinh sống tại khu phố G, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương từ năm 2001. Theo như quá trình bà C chứng kiến thì ranh đất giữa thửa 377 của ông Nguyễn Văn R giáp với đất của bà Nguyễn Kim P là ngay tại vị trí bức tường đá tổ ong của nhà bà P từ rất lâu rồi. Bà C chỉ biết ông R mua đất của ông T1 chứ không biết mua như thế nào. Ông R cũng có phần đất phía sau giáp với thửa 377 và giáp ranh với đất bà P. Theo bà C biết thì ranh đất là một đường thẳng từ trước ra sau. Bà C xin vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng của Toà án.

* Theo biên bản lấy lời khai, người làm chứng ông Phạm Xuân N1 trình bày:

Ông N1 có phần đất cách phần đất của bà P hiện nay khoảng 50m, phần đất này ông N1 canh tác từ sau giải phóng đến nay ông N1 biết ranh giới sử dụng đất của các phần đất xung quanh. Ranh đất giữa thửa 242 và 377 của ông R với thửa 203 mà hiện nay bà P đang sử dụng xác định bằng hàng rào xi măng, dây kẽm gai do ông R dựng. Hàng rào đó hiện nay vẫn còn, bà P còn kè thêm 1 hàng cột xi măng bên cạnh. Ranh giới giữa 2 thửa đất là 01 đường thẳng. Phần mương nước là thuộc đất của bà P vì ông N1 biết mương này là do ông Nguyễn Hữu N – em ruột của bà P thuê móc cách đây khoảng 20 năm, từ trước khi trồng cao su (Phần đất này trước đây trồng điều). Người ta chỉ có thể móc mương trên đất của mình, không thể móc mương lên đất của người khác. Do đó ranh giới giữa 2 thửa đất chính là hàng rào cột xi măng dây kẽm gai do ông R rào. Ông N

chỉ ranh giới đất là ràng rào trụ xi măng, ông N không biết tại sao lại có tường rào đá tổ ong này. Ông N xin vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng của Toà án.

* Theo biên bản lấy lời khai, người làm chứng ông Nguyễn Văn P1 trình bày:

Ông P1 sinh sống cách phần đất tranh chấp của ông R, bà P khoảng 500m. Ông P1 đến khu phố 7 từ năm 1982, sau đó khoảng năm 1989 thì ông Phó Tây N5, đến năm 1998 thì ông P1 quay về khu phố 7 mua đất và sinh sống cho đến nay. Ông P1 chỉ biết phần đất của ông R trước đây là của bà V bán cho một người, người này bán lại cho ông R vào khoảng năm 2015, 2016. Lúc mùa nắng, bà V phát đốt rẫy còn cháy lan sang đất bà P ông P1 còn đi coi. Hiện nay bà V vẫn còn sinh sống ở đó. Đối với phần đất của bà P là do vợ chồng bà P canh tác từ trước đến nay. Ranh đất giữa thửa 242, 377 của ông R với thửa 203 của bà P là một đường thẳng, được xác định bằng hàng rào xi măng, dây kẽm gai do ông R dựng lúc mới mua đất. Năm rồi khi ông R đo đất, bà P có dựng thêm 01 hàng cột xi măng cặp ngay bên cạnh. Phần mương nước là thuộc đất của bà P vì mương này là do ông N làm nghề xe ben móc giúp cho bà P khi bà P trồng cao su để tránh cho T3, bò vào phá. Cao su nay đã khai thác được mười mấy năm nên con mương đã móc được khoảng 20 năm rồi. Ông P1 xin vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng của Toà án.

* Theo biên bản lấy lời khai, người làm chứng bà Đỗ Thị Kim L trình bày:

Bà L sinh sống cách phần đất tranh chấp của ông R, bà P tại Khu phố G khoảng 1km nhưng phần đất này ngay trên đường bà L đi làm, đi chợ hằng ngày. Bà L đến chuyển Khu phố 7 từ năm 2012, bà L với chồng chuyển về đất ba má chồng cho. Ba má chồng bà L (ông Phạm Thành D, Nguyễn Thị T4) đã sinh sống ở Khu phố G từ năm 1990. Do thường xuyên đi ngang, bà L thấy ranh giới giữa thửa 242, 377 của ông R với thửa 203 của bà P là một hàng rào trụ xi măng, dây kẽm gai thẳng từ ngoài đường Văn Công K vào. Ai làm hàng rào này thì bà L không biết. Năm rồi khi các bên xảy ra tranh chấp, bà P có dựng thêm 1 hàng cột xi măng trên đất bà P sát ngay bên cạnh.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng có ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại các Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền thụ lý vụ án; Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự về xác định tư cách tham gia tố tụng; Các Điều từ 93 đến 97 Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ; Điều 195, 196 Bộ luật Tố tụng dân sự về trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho VKS và cho đương sự; Các Điều từ 208 đến 211 Bộ luật Tố tụng dân sự về

việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự về thời hạn chuẩn bị xét xử. Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm này các đương sự đã chấp hành đúng, đầy đủ nghĩa vụ tố tụng quy định tại các Điều 70, 71, 72, 73, 85, 86 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án dân sự:

Đây là tranh chấp về đất đai theo quy định pháp luật về đất đai. Tòa án xác định đúng mối quan hệ pháp luật.

Tại mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 243-2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện D thì phần đất tranh chấp qua đo đạc thực tế diện tích 57,4m² thuộc phần ký hiệu A trên mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 243-2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện D thuộc một phần thửa đất 242 và 377 tờ bản đồ số 26. Ngoài ra, tại mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 243-2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện D thì diện tích thửa đất số 242, tờ bản đồ số 26 còn lại là 7.322,0 m², diện tích thửa đất số 377, tờ bản đồ số 26 còn lại là 287,0 m² (thửa của nguyên đơn ông R, không tính phần diện tích tranh chấp 57,4m²); thửa đất số 203, tờ bản đồ số 26 là 10.690 m², thửa đất số 204, tờ bản đồ số 26 là 9.814 m² (thửa đất của bị đơn bà P, không tính phần diện tích tranh chấp 57,4m².

Theo hồ sơ Tòa án thu thập thể hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn ông R đối với thửa đất số 242, 377 tờ bản đồ số 26 được cấp theo bản mô tả ranh giới, mốc giới và có thể hiện việc ký liên ranh của các chủ đất liền kề, trong đó có bị đơn bà P (BL 150, 161). Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn bà P đối với thửa đất số 203, 204 tờ bản đồ số 26 được cấp theo bản đồ địa chính chính quy năm 1999, lập bằng phương pháp ảnh hàng không, không thể hiện việc ký liên ranh.

Như vậy, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 242, 377 tờ bản đồ số 26 của nguyên đơn ông R được cấp qua đo đạc thực tế, có ký liên ranh theo quy định và diện tích đang giảm so với diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (thửa đất số 242 giảm 43,5 m², thửa đất số 377 giảm 13,9 m²), còn thửa đất số 203, 204 bản đồ số 26 của bị đơn bà R không được đo đạc thực tế, không ký liên ranh.

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất và quyền sử dụng đất được nhà nước bảo hộ khi có người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình.

Do đó, phần đất qua đo đạc thực tế diện tích 57,4m² thuộc phần ký hiệu A trên mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 243-2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện D thuộc thửa đất số 242, 377 tờ bản đồ số 26 là thuộc quyền sử dụng đất của nguyên đơn ông R.

Căn cứ vào các chứng cứ của đương sự cung cấp, toà án thu thập và quy định định của pháp luật tại Điều 5, 12, 166, 170 Luật đất đai 2013, Điều 169,

175, 176 BLDS năm 2015 chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông R.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn ông R khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Kim P trả lại phần đất có diện tích 57,4 m² thuộc thửa 377, 242 tờ bản đồ số 26, toạ lạc tại khu phố G, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương cho ông R. Do đó, quan hệ tranh chấp của vụ án là “tranh chấp quyền sử dụng đất” theo quy định tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Phần đất tranh chấp toạ lạc tại khu phố G, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Tại phiên toà, ngưuòi có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt. Tuy nhiên, những người này đã có trình bày ý kiến trong biên bản của Toà án, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến sự thật của vụ án nên Toà án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, 228, 229 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung tranh chấp: Phần đất tranh chấp có diện tích 57,4m² thuộc thửa 242, 377 tờ bản đồ số 26, toạ lạc tại khu phố G, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương.

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Nguyên đơn ông R khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Kim P trả lại phần đất có diện tích 57,4 m² thuộc thửa 377, 242 tờ bản đồ số 26, toạ lạc tại khu phố G, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương cho ông R bởi căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 00246 ngày 04/01/2016 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông Nguyễn Văn R và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 00112 ngày 08/10/2015 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho bà Đặng Thị Hồng N2, đăng ký biến động chuyển nhượng ngày 04/01/2016 cho ông Nguyễn Văn R thì phần đất tranh chấp nằm hoàn toàn trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn. Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì phần đất có diện tích 57,4m² toạ lạc tại khu phố G, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương nguyên đơn tranh chấp là thuộc quyền sử dụng đất của bị đơn căn cứ vào hàng rào kẽm gai do nguyên đơn dựng nên từ năm 2016.

[2.2] Về nguồn gốc, quá trình sử dụng phần đất tranh chấp:

Nguyên đơn ông R xác định rằng nguồn gốc diện tích 57,4 m² thuộc thửa 377, 242 tờ bản đồ số 26 là do nguyên đơn nhận chuyển nhượng từ ông Trần Văn T1 và Đặng Thị Hồng N2 năm 2016. Khi chuyển nhượng hai bên đã tiến hành đo đạc thực tế, bà P cũng đã ký liên ranh cho nguyên đơn. Khi nhận chuyển nhượng xong nguyên đơn có cắm trụ bê tông kéo dây kẽm gai làm hàng rào ngăn cách với đất của bị đơn nhưng không phải vị trí ranh đất do ngay vị trí ranh đất bị móc sâu không cắm hàng rào được. Khi nguyên đơn đi làm thủ tục mua thêm đất thổ cư thì bà P không chịu ký liên ranh xác nhận để nguyên đơn làm thủ tục mặc dù bà P đã ký liên ranh trước đó dù nguyên đơn đã nhiều lần thương lượng nên nguyên đơn mới khởi kiện ra toà.

Bị đơn bà P xác định rằng phần đất diện tích 57,4 m² là do bị đơn khai phá từ năm 1985. Đến năm 2002, bị đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 02661 QSDĐ/ do Ủy ban nhân dân huyện D cấp ngày 30/12/2002 cho hộ bà Nguyễn Kim P. Quá trình sử dụng đất thì bị đơn trồng điều, sau đó, trồng cao su như hiện nay. Năm 2016, nguyên đơn mua đất ở giáp ranh và đã làm hàng rào ngăn cách với đất bị đơn. Sau khi xảy ra mâu thuẫn thì bị đơn đã làm hàng rào sát với hàng rào của nguyên đơn để xác định ranh. Bị đơn xác định ranh đất ngay ở vị trí hàng rào nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Căn cứ vào hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông R, hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà P thể hiện: Nguồn gốc đất thửa 242 là do ông R nhận chuyển nhượng từ bà Đặng Thị Hồng N2, thửa 377 là do ông R nhận chuyển nhượng từ ông Trần Văn T1 từ năm 2016. Nguồn gốc phần đất thuộc thửa 203, 304 là của bà Nguyễn Kim P được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu năm 2002 nguồn gốc khai phá năm 1985. Hồ sơ chuyển nhượng thửa 242 và 377 của ông R thể hiện tại biên bản mô tả gốc ranh có bà Nguyễn Kim P ký xác định liên ranh. Kết quả xác minh và theo sự thừa nhận của các bên đương sự thì từ năm 2016 cho đến khi xảy ra tranh chấp hiện nay thì hai bên chưa xảy ra tranh chấp gì về ranh đất. Văn bản số văn bản số 1117/CNVPĐKĐĐ-ĐK&CGCN ngày 09/7/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D đã xác định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 00246 ngày 04/01/2016 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 00112 ngày 08/10/2015 được cấp theo đúng trình tự và thủ tục quy định, có thể hiện việc ký liên ranh của các chủ sử dụng đất liền kề. Diện tích đất tranh chấp có 43,5m² thuộc thửa 242, 13,9m² thuộc thửa 377 của nguyên đơn. Văn bản số văn bản số 493/PTNMT-QLĐĐ ngày 22/7/2024 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện D xác định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 02661 QSDĐ/ do Ủy ban nhân dân huyện D cấp ngày 30/12/2002 được cấp theo bản đồ địa chính chính quy lập năm 1999 và không đo đạc thực tế, và do bản đồ địa chính năm 1999 lập bằng phương pháp ảnh hàng không nên có sự chênh lệch về diện tích. Mảnh trích lục địa chính (có đo đạc chỉnh lý) tranh chấp số 243-2024 ngày 10/5/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D thể hiện phần đất tranh chấp 57,4 m² nằm hoàn toàn trên thửa 242, 377 của nguyên đơn, phần đất thửa 203, 204 của bị

đơn vẫn đủ diện diện tích theo giấy chứng nhận, việc chênh lệch diện tích là do thể hiện giáp đường nhựa theo hiện trạng. Ngoài ra, bị đơn còn đang sử dụng một phần đất (ký hiệu là B) diện tích 1.666,7m² không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị đơn càng chứng minh việc sử dụng đất của bị đơn thực tế so với giấy chứng nhận là có sự chênh lệch lớn và không chính xác. Hiện trạng phần đất tranh chấp cũng nằm một phần trên đường mương thoát nước mưa đã bị xói mòn, không có cây trồng gì trên đất. Kết quả xác minh người làm chứng cho thấy những người biết về nguồn gốc đất tranh chấp đều xác định ranh ngày vị trí bức tường đá ong do bị đơn xây dựng từ lâu. Như vậy, bị đơn không thể chứng minh bị đơn sử dụng đối với phần đất tranh chấp; phần đất tranh chấp nằm hoàn toàn trong thửa đất 242, 377 của nguyên đơn đã được đo đạc thực tế khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đã ký liên ranh với gia đình bị đơn, do đó, yêu cầu của nguyên đơn đối với phần đất tranh chấp 57,4m² là có căn cứ nên được chấp nhận.

[2.3] Đối với các tài sản trên đất, do các đương sự không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Quan điểm về nội dung vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật.

[4] Chi phí đo đạc, định giá: Tổng chi phí đo đạc, định giá là: 13.705.144 đồng (mười ba triệu bảy trăm lẻ năm ngàn một trăm bốn mươi bốn đồng). Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu các chi phí tố tụng theo quy định. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng các chi phí trên nên bị đơn phải nộp lại trả cho nguyên đơn.

[5] Án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với giá trị phần đất tranh chấp. Bị đơn thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn nộp án phí dân sự theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 5, 26, 35, 39, 68, 92, 147, 227, 228, 229, 235, 244, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều 4, 5, 12, 26, 99, 166, 202, 203 của Luật Đất đai năm 2013;

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn R đối với bà Nguyễn Kim P về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Buộc bà Nguyễn Kim P phải trả lại cho ông Nguyễn Văn R phần đất có diện tích 57,4m² CLN (ký hiệu là A) thuộc một phần thửa đất số 242, 377, tờ

bản đồ số 26, toạ lạc tại khu phố G, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương, có tứ cận:

  • Đông giáp đường Văn Công Khai;
  • Tây giáp thửa 336;
  • Nam giáp thửa 377, 242;
  • Bắc giáp thửa 242, 243 (theo bản đồ địa chính năm 1999).

(Có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

Ông Nguyễn Văn R có quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất đối với phần đất trên theo quy định.

2. Chi phí đo đạc, định giá: Bị đơn bà Nguyễn Kim P phải nộp số tiền 13.705.144 đồng (mười ba triệu bảy trăm lẻ năm ngàn một trăm bốn mươi bốn đồng) trả lại cho ông Nguyễn Văn R.

3. Án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Kim P được miễn nộp án phí theo quy định.

Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn R số tiền 600.000 đồng (sáu trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí ông R đã nộp theo hai biên lai thu số: 0002662 ngày 22 tháng 02 năm 2024và 0000371 ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng.

4. Quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (25/9/2024).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

5. Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND huyện Dầu Tiếng;
  • - CCTHA DS huyện Dầu Tiếng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Ngọc Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 182/2024/DS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 182/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger