|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 182/2024/DS-ST Ngày 25 tháng 4 năm 2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Hồng Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm.
- Bà Nguyễn Thị Kim Liên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiếu Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Tuyết M - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 765/2023/TLST-DS ngày 11 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 59/2024/QĐST-DS ngày 02 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP K.
Địa chỉ: F Q, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Hùng A, sinh năm 1970 - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
(Theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty cổ phần, mã số doanh nghiệp: 0100230800, đăng ký thay đổi lần thứ 56, ngày 30/01/2023).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Nhật Q, sinh năm 1976 - Chức vụ: Giám đốc Xử lý nợ - Ngân hàng TMCP K.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Nhật Q: Ông Ngô Công M1, sinh năm 1986 - Chức vụ: Chuyên viên. (Có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Tầng L - S, I N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Theo Giấy ủy quyền số 1230-02/2023/UQMN-TCB ngày 15/11/2023)
Bị đơn:
Bà Hoàng Hồ Hương G, sinh năm 1986. (Vắng mặt)
Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1985. (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Cấp T (nay là ấp T), xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Hoàng L, sinh năm 1961. (Vắng mặt)
- - Bà Hồ Thị N, sinh năm 1961. (Vắng mặt)
- - Trẻ Nguyễn Hoàng Q1, sinh năm 2015.
- - Trẻ Nguyễn Hoàng T, sinh năm 2020.
Người đại diện hợp pháp của trẻ Q1, trẻ Trung: Bà Hoàng Hồ Hương G, sinh năm 1986 và ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1985. (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Cấp T (nay là ấp T), xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
-
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và không hòa giải được, ông Ngô Công M1 là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 28/5/2020, Ngân hàng TMCP K và bà Hoàng Hồ Hương G, ông Nguyễn Văn Đ đã cùng ký đề nghị giải ngân kiêm hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số HCM202074207644/HĐTD, cụ thể như sau: Khế ước nhận nợ: LD2015185059; Mục đích vay: Cho vay mua bất động sản; Ngày nhận nợ: 30/5/2020; Lãi suất: Lãi suất linh hoạt; Ngày đến hạn: 30/5/2035; Thời hạn vay: 180 tháng; Số tiền vay: 1.023.000.000 đồng.
Đề nghị phát hành thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân phát hành ngày 27/5/2020 theo đó Ngân hàng TMCP K đã cấp hạn mức thẻ tín dụng cho chủ thẻ chính là bà Hoàng Hồ Hương G cụ thể như sau: Hạn mức thẻ: 90.000.000 đồng; Loại thẻ: T1.
Để đảm bảo cho các khoản vay theo đề nghị giải ngân kiêm hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số HCM202074207644/HĐTD, bà Hoàng Hồ Hương G và ông Nguyễn Văn Đ đã thế chấp cho Ngân hàng TMCP K tài sản sau: Thửa đất số 512, tờ bản đồ số 68; có diện tích 95,6m²; hình thức sử dụng riêng, mục đích sử dụng đất ở tại đô thị, thời hạn sử dụng lâu dài. Tài sản gắn liền với đất là công trình xây dựng đã hình thành: căn nhà tại địa chỉ C ấp T, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Diện tích xây dựng 67,4m²; diện tích sàn 138,5m²; kết cấu nền gạch, sàn đúc giả, mái tôn, cấp hạng 4, số tầng 2, năm hoàn thành xây dựng 2014. GCN quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 569246, số vào sổ cấp GCN: CH01112 do Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 03/10/2014. Cập nhật thay đổi chủ tài sản ngày 09/12/2014, theo Hợp đồng thế chấp số HCM202074207644/HĐTC ngày 29/5/2020 được Công chứng tại Văn phòng C và được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 29/5/2020 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng bà Hoàng Hồ Hương G và ông Nguyễn Văn Đ đã không thực hiện trả nợ theo như cam kết trong đề nghị giải ngân kiêm hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ. Ngân hàng TMCP K đã nhiều lần nhắc nhở yêu cầu bà Hoàng Hồ Hương G và ông Nguyễn Văn Đ thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng bà G, ông Đ vẫn không thực hiện dẫn đến khoản nợ quá hạn. Do đó, Ngân hàng TMCP K đã chuyển toàn bộ khoản nợ còn thiếu của khách hàng sang nợ quá hạn.
Tạm tính đến ngày 25/4/2024, dư nợ của bà Hoàng Hồ Hương G và ông Nguyễn Văn Đ tại Ngân hàng TMCP K cụ thể như sau:
Dư nợ theo đề nghị giải ngân kiêm hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số HCM202074207644/HĐTD là 946.797.048 đồng, trong đó:
Nợ gốc là 823.860.000 đồng; Nợ lãi là 122.937.048 đồng.
Dư nợ theo đề nghị phát hành thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân phát hành ngày 27/5/2020 là: 132.463.660 đồng.
Tổng nợ là: 1.079.260.708 đồng, trong đó: Nợ gốc là 956.323.660 đồng; Nợ lãi là 122.937.048 đồng.
Do đó, Ngân hàng TMCP K đề nghị Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
- - Buộc bà Hoàng Hồ Hương G và ông Nguyễn Văn Đ thanh toán cho Ngân hàng TMCP K số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 25/4/2024 là: 1.079.260.708 đồng, trong đó: Nợ gốc là 956.323.660 đồng; Nợ lãi là 122.937.048 đồng.
- Bà Hoàng Hồ Hương G và ông Nguyễn Văn Đ có nghĩa vụ thanh toán nợ lãi tiếp tục phát sinh theo các thỏa thuận tại đề nghị giải ngân kiêm hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số HCM202074207644/HĐTD và Đề nghị phát hành thẻ tín dụng ngày 27/5/2020 kể từ ngày 26/4/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
- - Trường hợp bà Hoàng Hồ Hương G và ông Nguyễn Văn Đ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP K thì Ngân hàng TMCP K được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm là: Thửa đất số 512, tờ bản đồ số 68; có diện tích 95,6m²; hình thức sử dụng riêng, mục đích sử dụng đất ở tại đô thị, thời hạn sử dụng lâu dài. Tài sản gắn liền với đất là công trình xây dựng đã hình thành: căn nhà tại địa chỉ C ấp T, xã B, huyện H, TP Hồ Chí Minh. Diện tích xây dựng 67,4m²; diện tích sàn 138,5m²; kết cấu nền gạch, sàn đúc giả, mái tôn, cấp hạng 4, số tầng 2, năm hoàn thành xây dựng 2014. GCN quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 569246, số vào sổ cấp GCN: CH01112 do Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 03/10/2014. cập nhật thay đổi chủ tài sản ngày 09/12/2014, theo Hợp đồng thế chấp số HCM202074207644/HĐTC ngày 29/5/2020 được Công chứng tại Văn phòng C và được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 29/5/2020 tại chi nhánh V huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh để thu hồi nợ.
- - Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của bà Hoàng Hồ Hương G và ông Nguyễn Văn Đ đối với Ngân hàng TMCP K. Nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà Hoàng Hồ Hương G và ông Nguyễn Văn Đ vẫn phải có nghĩa vụ thanh toán tiếp phần còn lại cho đến khi hết nợ cho Ngân hàng TMCP K.
-
Bị đơn bà Hoàng Hồ Hương G, ông Nguyễn Văn Đ: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập, Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho bà Hoàng Hồ Hương G, ông Nguyễn Văn Đ nhưng đương sự vẫn vắng mặt không lý do.
-
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hoàng L, bà Hồ Thị N, trẻ Nguyễn Hoàng Q1, trẻ Nguyễn Hoàng T có người đại diện theo pháp luật bà Hoàng Hồ Hương G, ông Nguyễn Văn Đ: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập, Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng đương sự vẫn vắng mặt không lý do.
-
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu quan điểm:
4.1. Về tố tụng:
Về xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Thẩm phán xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26 BLTTDS 2015. Bị đơn - ông Nguyễn Văn Đ và bà Hoàng Hồ Hương G có hộ khẩu thường trú tại xã B, huyện H nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35, Điều 36 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Sau khi thụ lý, Toà án ban hành thông báo thụ lý, thông báo cho bị đơn và VKS đúng theo quy định tại Điều 196 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự về việc tiến hành lập hồ sơ vụ án, hoà giải, gửi Quyết định đưa vụ án ra xét xử đến VKS huyện H, tiến hành triệu tập và tống đạt các văn bản của Toà án đúng quy định.
Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử và gửi hồ sơ cho VKS nghiên cứu đúng theo quy định tại Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về thời hạn chuẩn bị xét xử: Tòa án thụ lý vụ án ngày 11/12/2023, ngày 13/3/2024 ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng thời hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 203 BLTTDS năm 2015.
Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Nguyên đơn, đại diện ủy quyền của nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại các Điều 70, 71, 86 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Việc ủy quyền được thực hiện bằng văn bản đúng quy định. Riêng bị đơn và người liên quan không đến Toà giải quyết vụ án cũng không có văn bản thể hiện ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nên chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72, 73 BLTTDS 2015.
4.2. Về nội dung:
Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định Ngân hàng TMCP K có ký hợp đồng tín dụng với ông Nguyễn Văn Đ và bà Hoàng Hồ Hương G gồm 2 khoản vay: HCM202074207644/HĐTD để vay số tiền 1.023.000.000 đồng, thời hạn vay 180 tháng (từ 30/5/2020 – 30/5/2035), lãi suất linh hoạt, mục đích vay: mua bất động sản và HĐ phát hành thẻ tín dụng ngày 23/4/2022, số thẻ 19035889810012, chủ thẻ Hoàng Hồ Hương G, với hạn mức 90.000.000 đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân cho bà G, ông Đ số tiền vay theo thỏa thuận trong hợp đồng. Theo nguyên đơn thì trong thời gian thực hiện hợp đồng, bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ; bị đơn đã thanh toán được tổng số tiền gốc là 199.140.000 đồng và 258.463.021 đồng tiền lãi, sau đó không tiếp tục thanh toán gốc và lãi cho Ngân hàng. Ngân hàng yêu cầu bị đơn trả số nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 13/3/2024 là 1.061.892.857 đồng gồm: nợ gốc: 950.545.897 đồng, nợ lãi: 111.346.960 đồng.
Xét thấy, trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, mặc dù bị đơn đã nhận được thông báo của Tòa án nhưng cũng không đến Tòa, cũng không có văn bản trình bày ý kiến để bảo vệ quyền lợi của mình nên căn cứ khoản 4 Điều 91 và khoản 2 Điều 92 BLTTDS năm 2015, tài liệu do nguyên đơn cung cấp và lời khai của nguyên đơn là căn cứ để chứng minh. Tài liệu do nguyên đơn cung cấp chứng minh bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của mình theo thoả thuận trong hợp đồng nên căn cứ Điều 299, Điều 466 BLDS năm 2015 và Điều 95 Luật tổ chức tín dụng có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Trường hợp bị đơn không trả nợ thì xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Bị đơn trong vụ án là bà Hoàng Hồ Hương G và ông Nguyễn Văn Đ có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ Cấp T (nay là ấp T), xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh và thực tế đang cư trú tại địa chỉ trên. Căn cứ theo khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về thủ tục tố tụng:
[2.1] Quá trình giải quyết vụ án, căn cứ phiếu yêu cầu xác minh của Công an xã B, huyện H thể hiện trên tài sản thế chấp có địa chỉ C ấp T (nay là ấp T), xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh thực tế có các đương sự cư trú gồm: Ông Hoàng L, bà Hồ Thị N, trẻ Nguyễn Hoàng Q1, trẻ Nguyễn Hoàng T có người đại diện theo pháp luật bà Hoàng Hồ Hương G, ông Nguyễn Văn Đ nên Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn đã triệu tập với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
[2.2] Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Ngô Công M1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn bà Hoàng Hồ Hương G, ông Nguyễn Văn Đ; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hoàng L, bà Hồ Thị N, trẻ Nguyễn Hoàng Q1, trẻ Nguyễn Hoàng T có người đại diện theo pháp luật bà Hoàng Hồ Hương G, ông Nguyễn Văn Đ đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập, Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng các đương sự vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần () Kỹ thương Việt Nam.
Căn cứ Đề nghị giải ngân kiêm Hợp đồng tín dụng kiêm Khế ước nhận nợ số HCM202074207644/HĐTD ngày 28/5/2020 và và Đề nghị phát hành thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân phát hành ngày 27/5/2020 ký giữa bà Hoàng Hồ Hương G và ông Nguyễn Văn Đ với Ngân hàng TMCP K - Chi nhánh S nhận thấy thực sự có việc ký kết hợp đồng, việc giao nhận tiền, thực hiện các giao kết trong hợp đồng giữa bà G và ông Đ với Ngân hàng TMCP K.
Bà G và ông Đ đã nhận đủ tiền giải ngân theo hợp đồng tín dụng và nhận thẻ để sử dụng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng bà Hoàng Hồ Hương G và ông Nguyễn Văn Đ đã không thực hiện trả nợ theo như cam kết trong đề nghị giải ngân kiêm hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ và thông báo thu hồi nợ trước hạn.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ Luật Tố tụng dân sự: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Quá trình giải quyết vụ án, bà G và ông Đ đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn không đến Tòa để giải quyết vụ án, điều này chứng tỏ bà G và ông Đ không có thiện chí, không tích cực khắc phục hậu quả gây thiệt hại đến quyền lợi chính đáng của nguyên đơn, đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay tiền.
Bà G và ông Đ đã tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ lời khai của Ngân hàng làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án. Vì vậy, theo quy định tại Điều 463 và Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
Đối với yêu cầu về tính tiền lãi của Nguyên đơn do các bên tự thỏa thuận lãi suất nên căn cứ khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, yêu cầu tính lãi này của nguyên đơn được chấp nhận.
Bà G và ông Đ còn phải tiếp tục chịu còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi, phí khác phát sinh (nếu có) của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho vay và khế ước nhận nợ đã ký cho đến khi trả xong toàn bộ khoản nợ gốc.
Trường hợp trong hợp đồng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng TMCP K cho vay thì lãi suất mà Bà G và ông Đ phải tiếp tục trả cho Ngân hàng theo bản án của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng TMCP K.
Tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của Bà G và ông Đ đã được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số HCM202074207644/HĐTC ngày 29/5/2020 được Công chứng tại Văn phòng C và được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 29/5/2020 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh để đảm bảo cho khoản vay tại Ngân hàng TMCP K là: Toàn bộ quyền sử dụng thuộc Thửa đất số 512, tờ bản đồ số 68; có diện tích 95,6m2; hình thức sử dụng riêng, mục đích sử dụng đất ở tại đô thị, thời hạn sử dụng lâu dài. Tài sản gắn liền với đất là công trình xây dựng đã hình thành: căn nhà tại địa chỉ C ấp T, xã B, huyện H, TP Hồ Chí Minh. Diện tích xây dựng 67,4m²; diện tích sàn 138,5m²; kết cấu nền gạch, sàn đúc giả, mái tôn, cấp hạng 4, số tầng 2, năm hoàn thành xây dựng 2014 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 569246, số vào sổ cấp GCN: CH01112 do UBND huyện H, TP Hồ Chí Minh cấp ngày 03/10/2014. Ông Nguyễn Văn Đ cập nhật thay đổi chủ tài sản ngày 09/12/2014.
Việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm đã được thực hiện đúng theo quy định pháp luật nên các tài sản thế chấp nêu trên được dùng đảm bảo để thi hành án cho nghĩa vụ trả nợ của Bà G và ông Đ.
Các đương sự hiện đang thực tế cư trú và quản lý sử dụng đất đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án đển giải quyết vụ án do đó căn cứ khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu do Ngân hàng cung cấp để giải quyết vụ án, nên trường hợp Bà G1 và ông Đ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì tài sản thế chấp nêu trên được dùng đảm bảo để thi hành án cho nghĩa vụ trả nợ của Công ty khi bản án có hiệu lực pháp luật là phù hợp.
[4] Về chi phí tố tụng khác: Ngân hàng TMCP K không có yêu cầu về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[5] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn là phù hợp.
[6] Về án phí: Nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 264, Điều 266 và Điều 267 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ Điều 299, Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ khoản 2 Điều 91 và Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng;
- - Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;
- - Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần K.
[2] Buộc bà Hoàng Hồ Hương G và ông Nguyễn Văn Đ phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần K khoản tiền còn nợ theo Đề nghị giải ngân kiêm Hợp đồng tín dụng kiêm Khế ước nhận nợ số HCM202074207644/HĐTD ngày 28/5/2020 đã ký giữa Ngân hàng TMCP K với bà Hoàng Hồ Hương G và ông Nguyễn Văn Đ.
Số tiền nợ tạm tính đến ngày 25/4/2024 là 1.079.260.708 đồng, trong đó: nợ gốc: 956.323.660 đồng; nợ lãi: 122.937.048 đồng.
Kể từ ngày 26/4/2024, bà Hoàng Hồ Hương G và ông Nguyễn Văn Đ còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi, phí khác phát sinh (nếu có) của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho vay và khế ước nhận nợ đã ký cho đến khi trả xong toàn bộ khoản nợ gốc.
Trường hợp trong hợp đồng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng Thương mại cổ phần K cho vay thì lãi suất mà bà Hoàng Hồ Hương G và ông Nguyễn Văn Đ phải tiếp tục trả cho Ngân hàng theo bản án của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Thương mại cổ phần K.
[4] Sau khi bà Hoàng Hồ Hương G và ông Nguyễn Văn Đ trả hết các khoản tiền nêu trên, Ngân hàng TMCP K có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Hoàng Hồ Hương G và ông Nguyễn Văn Đ:
Bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BX 569246, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH 01112 do Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 03/10/2014, cập nhật thay đổi chủ tài sản cho ông Nguyễn Văn Đ ngày 09/12/2014.
Đồng thời tiến hành thủ tục xóa thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật.
[5] Trong trường hợp bà Hoàng Hồ Hương G và ông Nguyễn Văn Đ không thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản tiền nêu trên thì Ngân hàng TMCP K có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành các biện pháp cưỡng chế, kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ đối với:
Toàn bộ quyền sử dụng thuộc thửa đất số 512, tờ bản đồ số 68; có diện tích 95,6m²; hình thức sử dụng riêng, mục đích sử dụng đất ở tại đô thị, thời hạn sử dụng lâu dài. Tài sản gắn liền với đất là công trình xây dựng đã hình thành: căn nhà tại địa chỉ C ấp T (nay là ấp T), xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Diện tích xây dựng 67,4m²; diện tích sàn 138,5m²; kết cấu nền gạch, sàn đúc giả, mái tôn, cấp hạng 4, số tầng 2, năm hoàn thành xây dựng 2014. GCN quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 569246, số vào sổ cấp GCN: CH01112 do Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 03/10/2014. Cập nhật thay đổi chủ tài sản ngày 09/12/2014, theo Hợp đồng thế chấp số HCM202074207644/HĐTC ngày 29/5/2020 được Công chứng tại Văn phòng C và được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 29/5/2020 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
[6] Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm bà Hoàng Hồ Hương G và ông Nguyễn Văn Đ phải chịu là 44.377.821 đồng. Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP K số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 21.138.687 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2023/0008121 ngày 11 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn.
[7] Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
[8] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014), thì những người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trịnh Hồng Hải |
Bản án số 182/2024/DS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 182/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần K. Buộc bà Hoàng Hồ Hương G và ông Nguyễn Văn Đ phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần K khoản tiền còn nợ theo Đề nghị giải ngân kiêm Hợp đồng tín dụng kiêm Khế ước nhận nợ Sau khi bà Hoàng Hồ Hương G và ông Nguyễn Văn Đ trả hết các khoản tiền nêu trên, Ngân hàng TMCP K có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Hoàng Hồ Hương G và ông Nguyễn Văn Đ: Bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
