|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 182/2024/HS-ST Ngày 24/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lương Thị Nga.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bạc Thị Phương và bà Lò Thị Thiêm.
Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thúy Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên toà: Ông Phạm Minh Hưng, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 181/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 182/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T; tên gọi khác: Không có tên gọi khác; sinh ngày 01/4/1973; tại huyện T, tỉnh Điện Biên; giới tính: Nam; nơi cư trú: Bản M, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 7; con ông Nguyễn Văn L, đã chết; con bà Nguyễn Thị T1, đã chết; bị cáo từng có vợ là Khổng Thị H, sinh năm 1975 (đã ly hôn) và có 01 người con sinh năm 1995; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án số 63/2009/HSST ngày 31/8/2009 của Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên tuyên phạt bị cáo 30 tháng tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy, bị cáo đã chấp hành xong, được xóa án tích và bị cáo chưa từng bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/6/2024 đến ngày 26/6/2024, tạm giam từ ngày 27/6/2024 cho đến nay và bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 50 phút ngày 18/6/2024, bị cáo một mình đi bộ từ Trung tâm thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên đi đến Quốc lộ F ra khỏi khối S, thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đến khu vực khối S, thị trấn T bị cáo gặp một người đàn ông khoảng 35 tuổi nhìn giống người nghiện ma túy, bị cáo không quen biết. Qua trao đổi, bị cáo mua được của người đàn ông đó 01 gói nilon màu trắng, bên trong có chứa 12 viên nén màu hồng với giá 200.000đ. Sau khi mua được ma túy, bị cáo cất giấu gói ma túy vào trong túi quần đùi màu đen bên phải đang mặc rồi đi về nhà. Đến 16 giờ 15 phút cùng ngày, khi bị cáo đang đi bộ trên đường thuộc khối S, thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên thì gặp tổ công tác Công an huyện T phối hợp với tổ công tác 1266 Công an tỉnh Đ đang làm nhiệm vụ tại khối S, thị trấn T, huyện T. Qua kiểm tra tổ công tác phát hiện trong túi quần đùi màu đen bên phải của T 01 gói nilon màu trắng, bên trong có chứa 12 viên nén màu màu hồng tại mỗi viên nén có chữ “WY”; nghi đó là chất ma túy nên tổ công tác đã lập biên bản thu giữ vật chứng và đưa bị cáo cùng vật chứng về Cơ quan điều tra để điều tra, làm rõ.
Tại Biên bản làm việc về nội dung: Mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định chất ma túy và niêm phong lại vật chứng, đồ vật, tài liệu ngày 18/6/2024, có sự chứng kiến của bị cáo đã xác định khối lượng như sau: 12 viên nén màu màu hồng tại mỗi viên nén có chữ “WY” nghi ma túy tổng hợp có khối lượng 1,06 gam; gửi toàn bộ các viên nén màu hồng có khối lượng 1,06 gam làm mẫu giám định. Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 816/QĐ-CSĐT ngày 19/6/2024 đối với vật chứng thu giữ. Tại bản Kết luận giám định số: 1073/KL-KTHS ngày 25/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: Vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn T có khối lượng 1,06 gam các viên nén màu hồng là chất ma túy: Loại Methamphetamine; hoàn lại đối tượng giám định 0,94 gam Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số: 140/CT-VKSTG ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên; đã truy tố bị cáo về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 01 năm 10 tháng đến 02 năm 01 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tuyên tịch thu vật chứng còn lại của Nguyễn Văn T để tiêu hủy 01 phong bì niêm phong của Phòng K - Công an tỉnh Đ các mép đều được dán kín bên trong phong bì có chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định có khối lượng là 0,94 gam Methamphetamine và 01 gói niêm phong bằng phong bì màu trắng, các mép đều được dán kín, bên trong là vật chứng còn lại gồm: 01 mảnh nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng. Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị buộc bị cáo nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xem xét miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình tranh tụng công khai tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi của mình phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, Biên bản làm việc về nội dung: Mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định chất ma túy và niêm phong lại vật chứng, đồ vật, tài liệu, Kết luận giám định, Biên bản ghi lời khai, Biên bản hỏi cung bị can và các chứng cứ khác có trong hồ sơ; do đó có đủ cơ sở kết luận: Ngày 18/6/2024 bị cáo bị bắt quả tang khi đang tàng trữ 01 gói nilon màu trắng; bên trong có chứa 12 viên ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 1,06 gam. Số ma túy bị cáo tàng trữ, bị cáo mua của một người đàn ông không rõ lai lịch với giá 200.000đ nhằm mục đích sử dụng. Hành vi tàng trữ chất ma túy nhằm mục đích sử dụng đã cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo, bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố và Kiểm sát viên luận tội là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm những quy định của Nhà nước trong việc quản lý, sử dụng các chất ma túy; hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự trị an tại địa phương và làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự ổn định, phát triển của xã hội. Hơn nữa bị cáo đã từng phạm tội về ma túy và nhận được cải tạo, giáo dục của Nhà nước; nhưng khi chấp hành án xong bị cáo không tự rèn luyện mà chỉ một thời gian sau bị cáo đã tái nghiện ma túy. Vì là đối tượng nghiện ma túy nên bị cáo đã đăng ký uống thuốc thay thế là M và tính đến thời điểm bị cáo có hành vi phạm tội lần này bị cáo đang điều trị bằng thuốc Methadone, nhưng bị cáo còn có hành vi đi mua ma túy để sử dụng. Qua đó thấy rằng bị cáo thiếu ý thức rèn luyện, có thái độ coi thường pháp luật; vì vậy, cần đưa ra mức hình phạt nghiêm khắc để giáo dục đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[3] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 BLHS.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 BLHS quy định; bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung bằng tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo không có khả năng thi hành; nên Hội đồng xét xử không phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Xét đề nghị về tội danh và mức hình phạt của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đối với bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy là đúng hành vi phạm tội, tính chất, mức độ, tình tiết giảm nhẹ của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về xử lý vật chứng: Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tuyên tịch thu tiêu hủy vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn T được hoàn lại sau giám định có khối lượng 0,94 gam Methamphetamine; do đây là chất Nhà nước cấm lưu hành, tàng trữ; đối với 01 mảnh nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì dùng để niêm phong vật chứng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu để tiêu hủy.
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; xét thấy bị cáo thuộc trường hợp phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Đối với người đàn ông không rõ lai lịch, đã bán ma túy cho bị cáo; nhưng khi mua bán bị cáo không hỏi tên tuổi địa chỉ ở đâu nên không có cơ sở xác minh làm rõ, do đó tại vụ án này HĐXX không xem xét.
[9] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thấy rằng: Không có ý kiến khiếu nại các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng theo quy định của Pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự:
- Tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (Một) năm 10 (Mười) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2024.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; tuyên tịch thu để tiêu hủy 01 phong bì niêm phong của Phòng K - Công an tỉnh Đ các mép đều được dán kín bên trong phong bì có mẫu vật hoàn lại sau giám định có khối lượng là 0,94 gam Methamphetamine và 01 phong bì niêm phong vật chứng màu trắng, các mép đều được dán kín, bên trong chứa vật chứng còn lại vụ Nguyễn Văn T gồm: 01 mảnh nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng.
(Đặc điểm vật chứng được ghi theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/9/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo).
- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 332; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 24/9/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Lương Thị Nga |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Bạc Thị Phương |
Lò Thị Thiêm |
Lương Thị Nga |
Bản án số 182/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 182/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
