Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ QUẾ VÕ

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 182/2024/HSST

Ngày 23/09/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đắc Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Chung & Bà Nguyễn Thị Phú.

Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hoà, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Hương, Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 09 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 183/2024/HSST ngày 04 tháng 09 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 181/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 09 năm 2024 đối với bị cáo:

Bị cáo: Trần Văn H, sinh năm 1990.

HKTT: Riền Thượng, xã H, huyện B, tỉnh Cao Bằng.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn S và bà Lý Thị M; Gia đình bị cáo có 04 chị em, bị cáo là con út; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 26/7/2018, Công an huyện B, tỉnh Cao Băng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.000.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Chấp hành xong ngày 16/08/2018.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/06/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam - Công an tỉnh B.

Người bào chữa của bị cáo: Ông Hoàng Nhật H1 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B; Có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người tham gia tố tụng khác:

1. Ông Nguyễn Kim S1 - Cán bộ phụ trách tin học Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.

2. Cán bộ phụ trách tin học Trại tạm giam - Công an tỉnh B. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trần Văn H, HKTT: Riền Thượng, xã H, huyện B, tỉnh Cao Bằng là đối tượng thường xuyên sử dụng ma tuý.

Khoảng 13 giờ ngày 07/6/2024, H đang ngồi uống nước ở khu vực khu D, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh thì có nhu cầu sử dụng ma túy nên đã gọi điện thoại cho C để hỏi mua ma túy Heroine. C đồng ý và hẹn H đến khu vực ngã tư khu D, phường P. thị xã Q. Sau đó, H đi bộ một mình đến chỗ hẹn đợi C. Khoảng 10 phút sau, H thấy C đi xe ôm đến rồi xuống xe đi bộ lại gần chỗ H đang đứng. Tại đây, H đưa cho C 200.000 đồng. C cầm tiền và đưa lại cho H 01 gói giấy bạc màu trắng. Biết đó là ma túy cần mua, H cầm lấy, cất vào túi quần bò phía trước bên trái đang mặc trên người. Sau đó, H quay về phòng trọ ở khu D, phường P để sử dụng ma túy còn C đi đâu H không biết. Trên đường đi, H bị tổ công tác tiến hành kiểm tra, lập biên bản quả tang và thu giữ vật chứng như trên.

Vật chứng thu giữ: Thu giữ tại túi quần bò phía trước bên trái H đang mặc trên người 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng.

Tại bản Kết luận giám định số 1407/KL-KTHS ngày 09/06/2024, của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

“Chất bột màu trắng bên 01 (một) gói giấy bạc màu trắng gửi giám định có khối lượng là 0,1514 gam; Là ma túy; Loại ma túy: H (H).”

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, bị cáo Trần Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 137/CT-VKSQV ngày 30/08/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã truy tố Trần Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Trần Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Trần Văn H từ 14 tháng đến 18 tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày 07/06/2024. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ số mẫu vật còn lại sau giám định trong phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B.

Bị cáo Trần Văn H nhận tội, không có ý kiến gì và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về gia đình và xã hội.

Người bào chữa của bị cáo gửi và đề nghị công bố bản luận cứ tại phiên toà, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo trở thành người tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Văn H tại cơ quan điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, lời khai của những người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án xác định được: Hồi 13 giờ 30 phút ngày 07/6/2024, tại khu D, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác Công an phường Q phối hợp Công an phường P phát hiện bắt quả tang Trần Văn H có hành vi tàng trữ trái phép 0,1514 gam Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Như vậy, thấy đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của Trần Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm được quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội. Tệ nạn ma tuý làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế, xã hội của Nhà nước; việc đấu tranh với các tội phạm về ma tuý hiện nay là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách để bài trừ tệ nạn này. Bất chấp sự ngăn cấm của pháp luật, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo đã tiếp tay làm gia tăng tệ nạn ma tuý trên địa bàn thị xã Q. Chính vì vậy phải đưa ra xét xử bị cáo kịp thời và có hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tuy nhiên, bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục phạm tội.

Tại cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng Ba nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với đối tượng tên C bán ma túy cho H, quá trình điều tra xác định H không biết tên, tuổi địa chỉ cụ thể ở đâu, chỉ biết C quê ở Lai Châu, H xin được số điện thoại của C từ bạn bè quen biết ngoài xã hội. Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5 màu đen (đã qua sử dụng) H khai nhận là phương tiện để liên lạc mua ma túy. Quá trình bắt giữ, do sợ hãi H đã bỏ chạy và làm rơi mất chiếc điện thoại trên. Cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm nhưng chưa thu hồi được.

Về xử lý vật chứng của vụ án: mẫu vật còn lại sau giám định trong phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B là vật cấm nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Về án phí: Bị cáo là dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 136, Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

Xử phạt: T (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/06/2024. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ số mẫu vật còn lại sau giám định trong phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B. (Theo biên bản giao vật chứng ngày 30/08/2024 giữa Công an thị xã Q với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quế Võ).

Về án phí: Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKS, CA, Chi cục THADS thị xã Quế Võ;
  • - VKS, Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh;
  • - Bị cáo và người tham gia tố tụng khác;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

(Đã ký)

Nguyễn Đắc Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 182/2024/HSST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 182/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn H - Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger