Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN UYÊN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 182/2024/HS-ST

Ngày 22-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Trí

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Quốc Dũng;

Bà Trần Thị Mộng Thu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thanh Phong - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 169/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 190/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 51/2024/HSST-QĐ ngày 30 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Trương Thanh Q, sinh năm 1987 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi cư trú: thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Quang T và bà Hồ Thị X; tiền án, tiền sự: không;

Ngày 05/7/2023 thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ngày 04/12/2023 đầu thú tại Công an phường U, thành phố T và được trả tự do. Ngày 01/02/2024 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T khởi tố bị can và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Ngày 20/02/2024 tiếp tục thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Đồng Nai khởi tố, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ từ ngày 07/3/2024 cho đến nay; Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Võ Thị Kim T1, sinh năm 1986; thường trú: 71 khu phố F, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương; chỗ ở hiện nay: cửa hàng Q1, số B Quốc lộ A, tổ D, khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương; Có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

+ Ông Nguyễn Văn N; xin vắng mặt;

+ Ông Trần Văn T2; xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 5/2023, Trương Thanh Q đi qua khu vực phường T, thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương thấy Cửa hàng phân phối bia, nước ngọt Q do bà Võ Thị Kim T1 làm chủ có số điện thoại trên biển quảng cáo nên lưu lại.

Đến khoảng 06 giờ 00 phút ngày 04/07/2023, do không có tiền tiêu xài nên Q nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của cửa hàng Q1. Thực hiện ý định, Q dùng điện thoại di động có số thuê bao 0928.744.529 gọi đến số điện thoại 0902.655.xxx của cửa hàng Q1 thì gặp bà T1, Q tự giới thiệu mình tên là “P”, đặt mua hàng hóa gồm: 120 thùng bia Tiger nâu; 40 thùng nước tăng lực Warrior Strawberry 330ml Pet; 20 thùng trà tắc mật ong; 30 thùng nước suối N; 05 thùng nước tăng lực Redbull và 05 thùng nước tăng lực Redbull với vitamin và kẽm. Bà T1 đồng ý và kết bạn qua mạng xã hội Zalo với Q. Sau khi đã thỏa thuận giá cả, Q gửi vị trí giao hàng cho bà T1 yêu cầu chở hàng đến giao tại địa chỉ đường U thuộc khu phố F, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Bà T1 gửi số điện thoại của người giao hàng là ông Nguyễn Văn N cho Q để liên hệ.

Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 05/7/2023, khi ông N đến nơi, Q yêu cầu ông N chuyển trước 120 thùng bia Tiger nâu sang xe tải (không rõ biển số) do Q thuê, đồng thời bảo ông N đợi bị cáo đem bia đi giao ở chỗ khác rồi quay lại trả tiền và lấy nước ngọt sau. Nghe vậy, ông N chuyển 120 thùng bia Tiger nâu qua xe tải cho Q. Sau đó, Q tắt điện thoại và chở số bia này đến huyện T, tỉnh Đồng Nai rồi tiếp tục thuê xe tải khác mang số bia vừa chiếm đoạt được bán lại cho một số tiệm tạp hoá (không rõ địa chỉ) trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Tổng số tiền bán được là 40.000.000 đồng bị cáo dùng tiêu xài cá nhân.

Đến ngày 04/12/2023, Trương Thanh Q đến Công an phường U, thành phố T đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi chiếm đoạt 120 thùng bia Tiger nâu của bà T1 vào ngày 05/7/2023.

Sau khi Trương Thanh Q đến Công an phường U đầu thú, bà T1 cũng đến trình báo vụ việc. Công an phường lập hồ sơ ban đầu và chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T thụ lý theo thẩm quyền.

Trương Thanh Q đã vứt bỏ điện thoại và sim thuê bao 0928.744.529 nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 173/KL-HĐĐGTS ngày 13/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố T kết luận: 120 thùng bia Tiger nâu chưa qua sử dụng tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là 42.000.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Võ Thị Kim T1 yêu cầu Trương Thanh Q bồi thường 43.680.000 đồng, Q đã bồi thường 10.000.000 đồng.

Bản Cáo trạng số 178/CT-VKSTU ngày 18/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trương Thanh Q về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trương Thanh Q từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc bị cáo tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền 33.680.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị hại thống nhất nội dung cáo trạng truy tố bị cáo, yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền 33.680.000 đồng và đề nghị xử phạt bị cáo theo quy định pháp luật.

Bị cáo Trương Thanh Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng, không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội sửa chữa lỗi lầm để trở thành công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người làm chứng có đơn xin vắng mặt. Quá trình điều tra, lời khai không mâu thuẫn với lời khai của bị cáo và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đại diện Viện kiểm sát và bị cáo, bị hại đồng ý xét xử vắng mặt người làm chứng. Xét thấy, việc vắng mặt của người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người làm chứng.

[3] Lời khai nhận tội của bị cáo Trương Thanh Q tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Ngày 05/7/2023, tại khu phố F, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Trương Thanh Q có hành vi dùng thủ đoạn gian dối lừa bà Võ Thị Kim T1 để chiếm đoạt 120 thùng bia T3 nâu với giá trị là 42.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

[4] Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tô bị cáo với tội danh và khung hình phạt như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[5] Hành vi của bị cáo đã thực hiện trong vụ án này là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội của địa phương. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì lòng tham, muốn có tiền để tiêu xài mà không phải lao động nên đã chiếm đoạt tài sản của người khác. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội này, bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản cho thấy bị cáo có thái độ xem thường pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tự nguyện bồi thường một phần cho bị hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự,

[8] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường 33.680.000 đồng, bị cáo đồng ý nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[10] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phạm tội, bị kết án và phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại nên phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trương Thanh Q phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Trương Thanh Q 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đầu thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 589 Bộ luật Dân sự;

Buộc bị cáo Trương Thanh Q phải tiếp tục bồi thường cho bị hại bà Võ Thị Kim T1 33.680.000 đồng (Ba mươi ba triệu, sáu trăm, tám mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ Luật Dân sự

3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Buộc bị cáo Trương Thanh Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.684.000 đồng (Một triệu, sáu trăm, tám mươi bốn nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo; bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Bình Dương;

- VKSND tỉnh Bình Dương;

- Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;

- PV06, Công an tỉnh Bình Dương;

- VKSND thành phố Tân Uyên;

- Công an thành phố Tân Uyên;

- Chi cục THADS thành phố Tân Uyên;

- Bị cáo; người tham gia tố tụng;

- Lưu: VT, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Văn Trí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 182/2024/HS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 182/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Thanh Q phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger