Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ VIỆT YÊN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 182/2024/HS-ST

Ngày 21-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG

- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Tuyết

- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Minh Nguyệt – Thư ký Toà án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 181/2024/TLST-HS ngày 13/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 181/2024/QĐXXST-HS ngày 16/8/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1970, Nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 4/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T và bà Đỗ Thị S; vợ Đỗ Thị X và 02 con, Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 17/7/2024 đến ngày 19/7/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

  1. Anh Lê Văn P – sinh năm 1975 (vắng mặt)

    Địa chỉ: Tổ dân phố Ninh Khánh, phường Nếnh, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang

  2. Anh Lê Văn T1 – sinh năm 1991 (vắng mặt)

    Địa chỉ: Tổ dân phố N, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lợi dụng việc Nhà nước mở thưởng giải xổ số kiến thiết Miền Bắc hằng ngày nên từ ngày 14/7/2024, Nguyễn Văn Đ- sinh năm 1970, trú tại tổ dân phố N, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang bắt đầu tự đứng ra làm chủ đề để bán số lô, số đề cho người chơi tại nhà của Đ thuộc tổ dân phố N, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Đồng chuẩn bị tờ giấy A4 (loại có một mặt màu trắng) để làm cáp đề tổng và mảnh tờ lịch treo tường hằng ngày làm cáp đề con ghi số lô, số đề đã bán, sau đó đưa lại cáp đề con cho người chơi làm căn cứ thanh toán tiền đánh bạc. Sau khi tổng hợp cáp đề của ngày, Đ chụp ảnh lại tờ cáp đề để chuyển qua zalo đăng ký bằng số điện thoại 0978.586.xxx cho Lê Văn T1- sinh năm 1991, trú tại tổ dân phố N, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang để hưởng chênh lệch với tỷ lệ Đ được hưởng là 15%/ tổng số tiền đề, lô xiên và 600 đồng/01 điểm lô thường. Đồng thống nhất với người chơi về cách chơi số lô, số đề dựa trên kết quả giải xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày, cụ thể như sau:

Dạng thứ nhất (chơi giải đặc biệt, nhất, hai cửa): Người chơi đặt cược hai số cuối của giải đặc biệt gọi là “Đặc biệt”; hai số cuối của giải nhất gọi là “Nhất”; hai số cuối của cả giải đặc biệt, nhất gọi là “Hai cửa”. Nếu người chơi trúng cược thì sẽ được trả gấp 80 lần số tiền đã đặt cược, thua cược bị mất số tiền đã đặt cược.

Dạng thứ hai chơi “Lô” là: Người chơi đặt cược hai số cuối tuỳ ý của tất cả các giải xổ số. Khi chơi, mỗi điểm lô người chơi phải bỏ ra đặt cược 22.500 đồng, nếu trúng thưởng người chơi sẽ được trả 80.000 đồng trên một điểm, không trúng người chơi bị mất số tiền đặt cược.

Dạng thứ ba chơi “Xiên” là: Người chơi đặt cược 2 cặp số; 3 cặp số để so với hai số cuối của tất cả các giải xổ số (gọi là xiên 2; xiên 3). Nếu trúng 02 cặp số (xiên 2) thì người chơi được trả gấp 10 lần số tiền đặt cược; nếu trúng 03 cặp số (xiên 3) thì người chơi được trả gấp 40 lần số tiền đặt cược.

Trong ngày 17/7/2024, Đ bán số lô, số đề cho nhiều người chơi khác nhau, có người biết họ tên, có người không biết họ tên. Trong đó, khoảng 16 giờ có Lê Văn P- sinh năm 1975, trú tại tổ dân phố N, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang đến nhà Đ chơi, lúc này có một người đàn ông Đ không quen biết tên tuổi, địa chỉ đến mua số lô, đề của Đ, do số điểm lô người này mua nhiều, Đ không chuyển được hết cho T1 nên Đ đã bảo P nhận cho Đ một số điểm lô thì P đồng ý, Đ đã chuyển cho Phòng 10 điểm lô với tổng số tiền 225.000 đồng, P sử dụng mảnh tờ lịch của Đ và tự ghi các số lô vừa nhận của Đ để theo dõi. Khoảng 17 giờ cùng ngày 17/7/2024, lần lượt có đối tượng khi bị bắt khai là Nguyễn Thị H- sinh năm 1985, trú tại thôn K, xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang đi cùng chị Hà Thị H1- sinh năm 1998, trú tại bản Hong Húa, xã S, huyện M, tỉnh Sơn La đến nhà Đ mua số lô, số đề. H mua của Đ 4.700.000 đồng tiền lô, đề (trong đó 200.000 đồng tiền đề; 200 điểm lô với số tiền 4.500.000 đồng), Đ viết các con số lô đề của H mua vào trong cáp tổng rồi tiếp tục viết ra cáp con đưa cho H giữ rồi nhận tiền thanh toán từ H. Khi vừa bán số lô đề cho H xong thì P bảo Đ bán cho Phòng 10 điểm lô với số tiền 225.000 đồng, Đ mới ghi các điểm lô Phòng mua vào cáp tổng, chưa kịp ghi ra cáp con thì bị lực lượng Công an đến bắt quả tang. Vật chứng thu giữ gồm: T2 tại tay phải của Đồng 01 tờ giấy A4, một mặt ghi “Kế hoạch tuần 3: Đất nước”, mặt còn lại ghi các chữ và số là tờ cáp đề tổng được đánh số giám định (ký hiệu A3) cùng 01 chiếc bút bi màu đen; thu túi quần bên phải của Đ số tiền 8.500.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A53 màu xanh; thu tại tay phải của H 01 mảnh giấy cắt ra từ tờ lịch một mặt có ghi các chữ, số là cáp đề con được đánh số giám định (ký hiệu A2); Phòng tự nguyện giao nộp 01 mảnh giấy cắt ra từ tờ lịch một mặt có ghi các chữ, số là tờ cáp đề con được đánh số giám định (ký hiệu A1).

Căn cứ lời khai của Đ, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Văn T1 tại tổ dân phố N, phường N, thị xã V. Kết quả thu giữ 01 tờ giấy A4 thu tại ngăn kéo kệ ti vi trong phòng khách và 01 quyển sổ, bên trong có hai tờ có ghi chữ và số thu tại cầu thang phía sau kệ ti vi trong phòng khách.

Tại kết luận giám định số 1621/KL-KTHS ngày 24/7/2024 của Phòng K- Công an tỉnh B kết luận: Chữ viết (chữ số) trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A1, A2, A3 - trừ chữ viết có nội dung “092,5 - 52,2,5 - 99,5n” trên tài liệu cần giám định A1) so với chữ viết của Nguyễn Văn Đ trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M1 đến M5) là do cùng một người viết ra. Chữ viết có nội dung “092,5 - 52,2,5 - 99,5n” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu Al) so với chữ viết của Lê Văn P trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M6 đến M9) là do cùng một người viết ra.

Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra điện thoại của Đ nhưng không có hình ảnh và nội dung liên quan đến việc chuyển số lô đề cho T1. Cơ quan điều tra tiến hành làm việc với T1 khai không nhận số lô, số đề của Đ chuyển đến, số điện thoại 0978.586.xxx trước đây T1 có sử dụng nhưng khoảng 01 năm nay thì T1 bị mất điện thoại và mất số nên không sử dụng số này nữa. Đối với 01 tờ giấy A4 và 01 quyển sổ bên trong có các chữ số mà Cơ quan điều tra thu giữ khi khám xét khẩn cấp tại nhà T1, T1 ghi các giải thưởng của xổ số kiến thiết Miền B để theo dõi vì T1 hay mua vé xổ số; việc Đ khai chuyển cáp đề cho T1 là không đúng. Do có mâu thuẫn lời khai nên Cơ quan điều tra đã cho Đ và T1 đối chất nhưng các bên giữ nguyên lời khai. Ngoài lời khai của Đ, không có tài liệu khác để xác định T1 có hành vi đánh bạc với Đ nên không đủ căn cứ để xử lý hình sự đối với T1.

Quá trình điều tra xác định tổng số tiền Nguyễn Văn Đ đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề trong ngày 17/7/2024 cho người chơi là 9.850.000 đồng (gồm: 414 điểm lô với số tiền 9.315.000 đồng, 365.000 đồng tiền đề, 170.000 đồng tiền lô xiên), trong đó: bán số lô, đề cho đối tượng H số tiền 4.700.000 đồng; Phòng số tiền là 450.000 đồng; còn lại những người chơi khác Đ không biết họ tên, địa chỉ tổng 4.700.000 đồng. Đ đã thu số tiền 8.500.000 đồng của những người đánh bạc.

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 191/QĐ-VKS ngày 12/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội không oan. Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai và vi phạm pháp luật. Bị cáo xác định bị cáo chỉ ghi số lô, số đề cho người chơi ngày 17/7/2024, còn các ngày khác bị cáo không ghi. Bị cáo không chuyển cáp đề cho ai, bị cáo tự bán số lô, số đề và tự thanh toán với người chơi. Việc bị cáo khai tại giai đoạn điều tra là bị cáo thỏa thuận với Lê Văn T1 về việc bị cáo làm thư ký ghi số lô, số đề cho người chơi sau đó chuyển cáp đề cho T1 và được hưởng 15% tổng số tiền đề là không đúng, do khi bị bắt bị cáo lo sợ nên đã nhớ nhầm và khai như vậy, đến nay bình tĩnh lại bị cáo xác định việc bán số lô, số đề là do một mình bị cáo thực hiện, bị cáo không chuyển cáp đề cho ai. Vợ con bị cáo đi làm không có nhà và bị cáo cũng không bàn bạc với vợ con bị cáo về việc ghi số lô, số đề. Chiếc điện thoại di động bị thu giữ bị cáo chỉ dùng để liên lạc hàng ngày, không dùng để nhận số lô, số đề của ai khác, bị cáo đề nghị cho bị cáo xin lại điện thoại để sử dụng. Bị cáo ghi số lô, số đề được tổng số tiền 9.850.000 đồng, bị cáo đã được người chơi thanh toán số tiền 8.500.000 đồng, số tiền 1.350.000 đồng còn lại bị cáo cho người chơi nợ, bị cáo đồng ý nộp lại Nhà nước số tiền đánh bạc này.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt đã được Thẩm phán chủ tọa phiên tòa công bố lời khai, bị cáo không có ý kiến gì về những lời khai đó.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Thẩm phán chủ tọa phiên tòa.

Áp dụng Khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 08 tháng tù đến 10 tháng tù về tội “Đánh bạc”, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 16 tháng đến 20 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn Đ cho UBND phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Phạt tiền: từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng để sung quỹ nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền: 8.500.000 đồng (Tám triệu năm trăm nghìn đồng chẵn).

Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền: 1.350.000 đồng (Một triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng chẵn).

Tịch thu tiêu huỷ: 01 bút bi màu đen.

Trả lại bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A53 màu xanh, nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên

Lời nói sau cùng: bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

[1] Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thị xã V, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đều hợp pháp.

[2] Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra. Việc vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu có trong hồ sơ. Điều đó đủ cơ sở để kết luận: Lợi dụng việc Nhà nước tổ chức giải Xổ số kiến thiết Miền Bắc và thông báo kết quả sổ số hàng ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng, ngày 17/7/2024, Nguyễn Văn Đ đã có hành vi bán số lô, số đề cho Nguyễn Thị H, Lê Văn P và một số người khác, Đ không biết là ai, với tổng số tiền đánh bạc là 9.850.000 đồng.

[4] Do đó Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 191/QĐ-VKS ngày 12/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tộị, đúng pháp luật.

[5] Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, việc bị cáo đánh bạc dưới hình thức bán lô, đề cho người khác làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, đồng thời là nguyên nhân gây phát sinh ra nhiều tệ nạn xã hội khác nếu không được ngăn chặn kịp thời. Vì vậy cần xử lý bằng pháp luật hình sự đối với bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.

[6] Xét về mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị, Tòa án thấy là tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cho bị cáo cần phân tích đánh giá như sau:

Xét về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Văn Đ có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là có căn cứ khi lượng hình.

Qua đánh giá nêu trên, nhận thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo có ấn định thời gian thử thách theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự cũng đủ răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời tạo cho bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm và trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội vì động cơ vụ lợi nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 8.500.000 đồng là số tiền bị cáo bán số lô đề mà có nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước, số tiền 1.350.000 đồng là tiền bị cáo đánh bạc nhưng cho người chơi nợ lại cần truy thu sung công quỹ nhà nước; 01 chiếc bút bi màu đen là công cụ phạm tội có giá trị thấp cần tịch thu tiêu hủy, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A53 màu xanh là tài sản của bị cáo không dùng vào việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo nhưng được giữ lại để đảm bảo thi hành án.

[8] Đối tượng đánh bạc khi bị bắt quả tang với Đ khai tên Nguyễn Thị H đã bỏ trốn khi đưa về trụ sở Công an thị xã V, tiến hành xác minh tại địa phương đối tượng khai nhưng không xác định được là ai; đồng thời những người đánh bạc khác, Đ khai không biết là ai nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tách ra để tiếp tục điều tra và đề nghị xử lý sau. Do vậy Tòa án không xem xét.

[9] Đối với Lê Văn P tham gia đánh bạc với Đ, nhưng chưa có tiền án tiền sự về tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc, số tiền tham gia đánh bạc chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an thị xã V đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Phòng theo quy định pháp luật là có căn cứ.

[10] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật là có căn cứ.

Ngoài ra, cần áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự để tuyên quyền kháng cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Phạt tiền: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng chẵn) để sung quỹ nhà nước.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền: 8.500.000 đồng (Tám triệu năm trăm nghìn đồng chẵn).

Truy thu sung công quỹ Nhà nước: 1.350.000 đồng (Một triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng chẵn).

Tịch thu tiêu huỷ: 01 bút mực màu đen.

Trả lại bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A53 màu xanh, nhưng được giữ lại để đảm bảo thi hành án.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

4. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành xong tất cả khoản tiền phạt, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự

Báo cho bị cáo có mặt biết có quyền kháng cáo trong thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thị xã Việt Yên;
  • - THAHS, Chi cục THADS thị xã Việt Yên;
  • - Công an thị xã Việt Yên;
  • - Bị cáo, người liên quan;
  • - Lưu HS.VP;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 182/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc

  • Số bản án: 182/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Đ phạm tội Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger