Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ P

TỈNH B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 182/2025/HSST

Ngày: 11/06/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Dũng

Các hội thẩm nhân dân:

  • - Ông Đỗ Văn Hòa
  • - Bà Lê Thị Phương Anh

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Châu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố P.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P: Ông Chu Đức Thọ - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 06 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 129/2025/HSST ngày 21 tháng 05 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Thanh T, tên gọi khác: Chu; Giới tính: Nam- Sinh ngày: 29/10/1992 tại tỉnh B; Nơi thường trú và chỗ ở: khu phố B, phường P, thành phố P, tỉnh Bn; Dân tộc: Kinh Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: không; Cha: Trần Việt C, sinh năm 1962; Mẹ: Nguyễn Thị Thanh H (đã chết); Vợ tên: Huỳnh Hà Mỹ T1, sinh 1996 C1 sống không đăng ký kết hôn, hiện đã bỏ nhau, con có 2 con, lớn sinh 2017, nhỏ sinh 2021.

- Tiền án: Ngày 28/12/2022 bị Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh B xử phạt 01 năm 03 tháng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án số 250/2022/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/3/2024, chưa được xóa án tích.

- Tiền sự: không - Nhân thân: không

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ ngày 27/11/2024, chuyển tạm giam ngày 06/12/2024, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực P - Trại tạm giam công an tỉnh B.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ 00 ngày 27/11/2024, Trần Thanh T đang ở nhà tại địa chỉ số B đường H thuộc khu phố B, phường P, thành phố P, tỉnh Bn thì có người tên T2 (không rõ nhân thân) là bạn quen ngoài xã hội của T đến chơi, T và T2 ngồi nói chuyện được một lúc đến khoảng 13 giờ 45 cùng ngày, T2 nói đi công việc, trước khi đi T2 ném cho T 01 vỏ bao thuốc lá hình hộp chữ nhật màu đen bạc, hiệu CARAVEN DEMI bên trong có 01 gói ma túy đá và nói T cất giữ giúp T2, lát nữa T2 sẽ quay lại lấy. Khi nhận vỏ bao thuốc lá trên, do biết T2 là người nghiện ma túy, thường xuyên mua ma túy về sử dụng nên T biết bên trong vỏ bao thuốc lá mà T2 đưa có chứa ma túy. Sau khi nhận vỏ bao thuốc lá bên trong có chứa ma túy từ Thông, T cất giấu ở dưới gối trong phòng ngủ của T rồi nằm lên gối ngủ. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Tổ công tác Công an phường P, thành phố P tiến hành kiểm tra hành chính nhà của Trần Thanh T thì phát hiện dưới gối, trong phòng ngủ của T có 01 vỏ bao thuốc lá hình hộp chữ nhật màu đen bạc, hiệu CARAVEN DEMI bên trong có 01 (một) gói nylon không màu chứa chất tinh thể màu trắng, T khai nhận đó là ma túy đá. Tổ công tác Công an phường P đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật, đưa T về trụ sở Công an phường để làm việc.

Quá trình điều tra, T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên. T khai: số ma túy mà Công an thu giữ dưới gối trong phòng ngủ của T là của T2 gửi T cất giữ giúp. T biết đó là ma túy nhưng vẫn đồng ý cất giúp T2.

Vật chứng của vụ án: Thu giữ dưới gối trên thềm trong phòng ngủ nơi Trần Thanh T đang nằm: 01 (một) vỏ bao thuốc lá hình hộp chữ nhật, kích thước (8,5 x 4,5 x 2) cm, màu đen bạc, trên vỏ bao có dòng chữ CARAVEN DEMI, bên trong vỏ bao thuốc lá có 01 (một) gói nylon, không màu, có khóa nhựa kéo một đầu, kích thước (4 x 7) cm, bên trong gói nylon có chứa chất tinh thể màu trắng. (T khai nhận đó là ma túy đá được, được ký hiệu M khi giám định).

Tại Bản kết luận giám định số 1507/KL-KTHS ngày 04 tháng 12 năm 2024 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận: Mẫu M gửi giám định có khối lượng 2,4915 gam là Methamphetamine.

Xử lý vật chứng:

Đối với số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1507, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Hồng T3 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P đã ra Quyết định chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P bảo quản chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 109/CT/VKS - HS ngày 21 tháng 05 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân thành phố P đã truy tố bị cáo Trần Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 01 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân thành phố P giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với Trần Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đề nghị hội đồng xét xử:

Áp dụng: điểm c khoản 01 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm s khoản 01 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù giam

Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 1507 có chử ký của giám định viên Nguyễn Hồng T3 và hình dấu tròn màu đỏ của phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh B (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 185 ngày 04/06/2025 của chi cục thi hành án dân sự thành phố P).

Bị cáo xác định cáo trạng truy tố là không oan sai, bị cáo không tranh luận gì, thống nhất với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát. Đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự vì bị cáo ăn năn hối hận về hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ để buộc tội bị cáo:

Đây là vụ án “Tàng trữ trái phép chất ma túy” do bị cáo Trần Thanh T thực hiện. Vào khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 27/11/2024, tại nhà số B đường H thuộc khu phố B, phường P, thành phố P, tỉnh Bn, Trần Thanh T đã có hành vi tàng trữ trái phép 2,4915 gam ma túy Methamphetamine (theo lời khai của T thì số ma túy trên T cất giúp người bạn tên T2) thì bị phát hiện thu giữ.

Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về chất ma túy; bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Do vậy, Cáo trạng số 109/2025/CT-VKS ngày 21/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ.

[3] Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi: Xét Trần Thanh T biết Methamphetamine là ma túy nằm trong danh mục nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm tàng trữ trái phép, vì hậu quả nguy hại của nó đối với sức khỏe con người và trật tự trị an xã hội nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng. Hành vi này không những xâm phạm đến chính sách quản lý của nhà nước về chất ma túy, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Do đó cần thiết phãi xử lý bằng biện pháp Hình sự để răng đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng: Trần Thanh T là người đã bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 250/2022/HS-ST ngày 28/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố P, chưa được xóa án tích, đến ngày 27/11/2024 tiếp tục phạm tội mới với lỗi cố ý nên lần phạm tội này của T thuộc trường hợp “Tái phạm”, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, Trần Thanh T đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối với đối tượng T2 người đã nhờ T cất giữ ma túy, do không rõ nhân thân nên không đủ căn cứ để xác minh xử lý.

[6] Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 1507 có chử ký của giám định viên Nguyễn Hồng T3 và hình dấu tròn màu đỏ của phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh B (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 185 ngày 04/06/2025 của chi cục thi hành án dân sự thành phố P).

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

* Áp dụng:

điểm c khoản 01 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015; điểm s khoản 01 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015.

* Tuyên bố:

Bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Xử phạt:

Trần Thanh T 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 27/11/2024, chuyển tạm giam ngày 06/12/2024.

* Về xử lý vật chứng:

áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 1507 có chử ký của giám định viên Nguyễn Hồng T3 và hình dấu tròn màu đỏ của phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh B (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 185 ngày 04/06/2025, của chi cục thi hành án dân sự thành phố P).

* Về án phí:

Áp dụng khoản 02 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Thanh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo bản án của bị cáo là 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án (11/06/2025).

Nơi nhận:

  • - VKSND tp P;
  • - VKSND tỉnh B;
  • - TAND tỉnh B;
  • - Công an tp P;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - UBND địa phương nơi b/c thường trú;
  • - Thi hành án thành phố P;
  • - Lưu hồ sơ.

TM - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm Phán - Chủ Tọa Phiên Tòa

Nguyễn Ngọc Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 182/2025/HSST ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 182/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 13 giờ 00 ngày 27/11/2024, Trần Thanh T đang ở nhà tại địa chỉ số 230A đường Hải Thượng Lãn Ông thuộc khu phố 2, phường P, thành phố P, tỉnh B thì có người tên T1 (không rõ nhân thân) là bạn quen ngoài xã hội của T đến chơi, T và T1 ngồi nói chuyện được một lúc đến khoảng 13 giờ 45 cùng ngày, T1 nói đi công việc, trước khi đi Thông ném cho Tùng 01 vỏ bao thuốc lá hình hộp chữ nhật màu đen bạc, hiệu CARAVEN DEMI bên trong có 01 gói ma túy đá và nói T cất giữ giúp Thông, lát nữa T1 sẽ quay lại lấy. Khi nhận vỏ bao thuốc lá trên, do biết T1 là người nghiện ma túy, thường xuyên mua ma túy về sử dụng nên T biết bên trong vỏ bao thuốc lá mà T1 đưa có chứa ma túy. Sau khi nhận vỏ bao thuốc lá bên trong có chứa ma túy từ T1, T cất giấu ở dưới gối trong phòng ngủ của T rồi nằm lên gối ngủ. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Tổ công tác Công an phường P, thành phố P tiến hành kiểm tra hành chính nhà của Trần Thanh T thì phát hiện dưới gối, trong phòng ngủ của Tùng có 01 vỏ bao thuốc lá hình hộp chữ nhật màu đen bạc, hiệu CARAVEN DEMI bên trong có 01 (một) gói nylon không màu chứa chất tinh thể màu trắng, T khai nhận đó là ma túy đá. Tổ công tác Công an phường P đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật, đưa T về trụ sở Công an phường để làm việc.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger