TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 182/2025/DS-PT Ngày 24-3-2025 V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đắc Cường.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Công Lực;
Bà Trần Thị Thắm.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Ngô Kim Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 512/2024/TLPT-DS ngày 29/10/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 105/2024/DS-ST ngày 14/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 152/2025/QĐ-PT ngày 27/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 198/2025/QĐ-PT ngày 13/3/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trương Thị Như T, sinh năm 1976; địa chỉ: số G, đường Đ, khu phố B, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Bị đơn:
- 2.1. Ông Lý V, sinh năm 1965; có mặt.
- 2.2. Bà Vương Xuân M, sinh năm 1966; có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- 2.3. Ông Lý Tấn P, sinh năm 1986; có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- 2.4. Bà Lý Mỹ Á, sinh năm 1989; có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Cùng địa chỉ: số B, đường T, khu phố B, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương. Địa chỉ hiện nay: số F đường C, khu phố G, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 3.1. Ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1989; địa chỉ: ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của ông T1: Ông Đỗ Thanh T2, sinh năm 1977; địa chỉ: số B C, tổ A, khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
3.2. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương; có văn bản đề nghị giải quyết vắng mặt.
4. Người kháng cáo: Ông Nguyễn Thanh T1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
5. Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 29/11/2023 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trương Thị Như T (gọi tắt là bà T) trình bày:
Do gia đình ông V, bà M, ông P, bà Á có nhu cầu chuyển nhượng đất và nhà nên ngày 14/4/2023, bà T với ông V, bà M, ông P, bà Á có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Văn phòng C, tỉnh Bình Dương diện tích 60,9m², thửa đất số 67, tờ bản đồ số 90, tọa lạc tại khu phố B, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 02371QSDĐ ngày 10/12/2002 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp cho hộ (ông, bà) L. Trên đất có 01 căn nhà cấp 3 với giá chuyển nhượng là 5.500.000.000 đồng; hình thức thanh toán như sau: bà T chuyển nhượng cho gia đình ông V, bà M phần đất có diện tích ngang 8m x dài 31m, thuộc thửa đất số 871, tờ bản đồ số 23, tọa lạc tại khu phố G, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương; phần đất này do bà T đứng tên quyền sử dụng đất với giá chuyển nhượng là 2.400.000.000 đồng và làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà M đứng tên; bà T đưa thêm tiền mặt cho gia đình ông V là 3.100.000.000 đồng. Gia đình ông V đã giao nhà và đất cho bà T quản lý sử dụng.
Sau khi gia đình ông V, bà M, ông P, bà Á lập hợp đồng chuyển nhượng đất, bà T tiến hành lập hồ sơ sang tên và có giấy hẹn ngày 16/5/2023 sẽ nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sang tên bà T. Tuy nhiên, sau khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà T, ngày 06/7/2023 ông V mượn nợ của ông Nguyễn Thanh T1 nên ông T1 khởi kiện yêu cầu ông V thanh toán và ngăn chặn việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông V nên không thể ra tên cho bà T. Do đó, bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 14/4/2023 giữa bà Trương Thị Như T với ông Lý V, bà Vương Xuân M, ông Lý Tấn P, bà Lý Mỹ Á đối với phần đất diện tích 60,9m² cùng tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 67, tờ bản đồ số 90, tọa lạc tại khu phố B, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương được Văn phòng C, tỉnh Bình Dương công chứng số 01981, quyển số 04/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 14/4/2023 có hiệu lực pháp luật. Công nhận cho bà T được quyền quản lý, sử dụng phần đất có diện tích qua đo đạc thực tế là 60,9m² cùng tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 67, tờ bản đồ số 90, tọa lạc tại khu phố B, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương theo quy định pháp luật.
* Tại Bản tự khai ngày 09/7/2024 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Lý V (gọi tắt là ông V) trình bày:
Thống nhất với lời trình bày của bà T về việc gia đình ông V có chuyển nhượng cho bà T phần đất diện tích 60,9m², thuộc thửa đất số 67, tờ bản đồ số 90, tọa lạc tại khu phố B, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 02371QSDĐ ngày 10/12/2002 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp cho hộ (ông, bà) Lý V tại Văn phòng C, tỉnh Bình Dương với giá chuyển nhượng 5.500.000.000 đồng. Bà T đã giao tiền đầy đủ cho gia đình ông V và gia đình ông V đã giao nhà và đất cho bà T quản lý, sử dụng. Tuy nhiên, do ông V nợ tiền của ông Nguyễn Thanh T1 nên ông T1 khởi kiện yêu cầu ông V phải trả tiền và yêu cầu áp dụng biên pháp ngăn chặn việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông V với bà T. Nay bà T khởi kiện thì ông V đồng ý toàn bộ yêu cầu của bà T.
* Theo đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt ngày 12/8/2024, bị đơn bà M, bà Á trình bày:
Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của gia đình ông V với bà T thì gia đình bà M, bà Á đã thực hiện chuyển nhượng, công chứng tại Văn phòng Công chứng. Thời điểm chuyển nhượng, đất không có tranh chấp. Gia đình ông V đã thực hiện đầy đủ các cam kết đối với việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất cho bà T. Đối với việc tranh chấp của ông V và những người khác thì bà M, bà Á không biết và không liên quan.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thủ tục cấp, tống đạt các văn bản tố tụng và các tài liệu, chứng cứ theo quy định pháp luật cho ông Lý Tấn P biết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình, nhưng ông P vẫn vắng mặt không có lý do.
* Theo Bản tự khai ngày 08/7/2024 của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh T1 (gọi tắt là ông T1) và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của ông T1 trình bày:
Ông Lý V có nghĩa vụ thanh toán cho ông T1 số tiền 3.047.150.000 đồng theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 196/2023/QĐST-DS ngày 28/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. Quá trình thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng đã tiến hành xác minh và áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” theo Quyết định số 18/2023/QĐ-BPKCTT ngày 16/11/2023 đối với thửa đất số 67, tờ bản đồ số 90, tọa lạc tại khu phố B, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp 02371QSDĐ ngày 10/12/2002 do Ủy ban nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương cấp cho hộ ông Lý V.
Sau khi quyết định công nhận sự thỏa thuận có hiệu lực thi hành, ông T1 có đơn yêu cầu thi hành án gửi đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng để yêu cầu thi hành án đối với ông Lý V và tiếp tục yêu cầu phong tỏa tài sản đối với quyền sử dụng đất nêu trên của ông Lý V. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng đã có Quyết định thi hành án theo yêu cầu số 540/QĐ-CCTHADS ngày 30/11/2023 để thi hành án theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 196/2023/QĐST-DS ngày 28/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng và Quyết định số 26/QĐ-CCTHADS ngày 30/11/2023 về việc tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản đối với phần đất tại thửa đất số 67, tờ bản đồ số 90, tọa lạc tại khu phố B, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp 02371QSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương cấp ngày 10/12/2002 cho hộ ông Lý V; ra Quyết định về việc cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 38/QĐ-CCTHADS ngày 05/01/2024 đối với diện tích đất trên nên việc bà T khởi kiện thì ông T1 không đồng ý, vì: việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông V với bà T được thực hiện sau khi ông V vay tài sản (tiền) của ông T1; thỏa thuận chuyển nhượng giữa ông Lý V với bà T chỉ nhằm tẩu tán tài sản và bà T chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai.
Việc ông T1 yêu cầu phong tỏa tài sản là đúng quy định của pháp luật; việc Tòa án và cơ quan Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, phong tỏa và ra quyết định kê biên tài sản là đúng quy định pháp luật; đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của ông T1. Hành vi của ông V là vi phạm pháp luật làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông T1.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng trình bày:
Chi cục Thi hành án đang thi hành Quyết định số 196/2023/QĐST-DS ngày 28/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng. Người phải thi hành án là ông Lý V, nghĩa vụ thi hành án là thanh toán cho ông Nguyễn Thanh T1 số tiền 3.047.150.000 đồng và lãi suất chậm thi hành án. Qua xác minh xác định: ông V có tài sản chung của vợ chồng và hộ gia đình như sau: quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 67, tờ bản đồ số 90, tọa lạc tại thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 02371QSDĐ ngày 10/12/2002 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp cho hộ (ông, bà) Lý Vinh; quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 1422, tờ bản đồ số 23, tọa lạc tại thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành DL072309, số vào sổ cấp GCN: CS13086 ngày 16/5/2023 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho bà Vương Thị M1 (hiện đang thế chấp tại Ngân hàng TMCP Q – Chi nhánh B).
Quá trình tổ chức thi hành án, do ông Lý V không tự nguyện thi hành án, ngày 05/01/2024 Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng đã ban hành Quyết định về việc cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 38/QĐ-CCTHADS với nội dung cưỡng chế kê biên đối với tài sản là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 67, tờ bản đồ số 90, tọa lạc tại thị trấn D, huyện D theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 02371QSDĐ ngày 10/12/2002 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp cho hộ (ông, bà) Lý V cùng tài sản gắn liền với đất để đảm bảo thi hành án theo quy định. Vì vậy, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng thông báo việc đang tổ chức thi hành Quyết định số 196/2023/QĐST-DS ngày 28/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng để Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng nắm rõ nhằm phục vụ cho việc giải quyết, xét xử vụ án. Đồng thời, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng đề nghị Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng xem xét giải quyết, xét xử vụ án nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của người được thi hành án theo quyết định của Tòa án nêu trên.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 105/2024/DS-ST ngày 14-8-2024 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đã căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 266, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 117, 118, 119, 124, 129, 398, 501, 502 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 166, 167, 168, 169 của Luật đất đai năm 2013; các Điều 8, 9, 12 của Luật nhà ở năm 2014 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện “tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở” của bà Trương Thị Như T đối với ông Lý V, bà Vương Xuân M, ông Lý Tấn P, bà Lý Mỹ Á.
Công nhận hiệu lực của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở số công chứng 01981, quyển số 04/2023 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C công chứng ngày 14/4/2023 giữa bà Trương Thị Như T và ông Lý V, bà Vương Xuân M, ông Lý Tấn P, bà Lý Mỹ Á đối với phần đất có diện tích 60,9m², thửa đất số 67, tờ bản đồ số 90 tọa lạc tại khu phố B, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương và căn nhà cấp 3 gắn liền trên đất (trừ thỏa thuận tại điểm 1 Điều 2 của Hợp đồng) với giá chuyển nhượng là 5.500.000.000 đồng.
Bà Trương Thị Như T được quyền quản lý, sử dụng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nêu trên (Theo Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý (tranh chấp) số 189-2024 ngày 10/4/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện D).
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện “tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở” của bà Trương Thị Như T đối với ông Lý V, bà Vương Xuân M, ông Lý Tấn P, bà Lý Mỹ Á.
Tuyên bố thỏa thuận tại điểm 1 Điều 2 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở số công chứng 01981, quyển số 04/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 14/4/2023 tại Văn phòng C là vô hiệu.
3. Chi phí đo đạc, định giá: chi phí đo đạc 2.846.184 đồng và chi phí định giá 1.000.000 đồng. Ông Lý V, bà Vương Xuân M, ông Lý Tấn P, bà Lý Mỹ Á nộp hoàn lại cho bà Trương Thị Như T.
4. Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Lý V, bà Vương Xuân M, ông Lý Tấn P, bà Lý Mỹ Á phải chịu 300.000 đồng.
H lại cho bà Trương Thị Như T 600.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0002435 ngày 07/12/2023 và Biên lai thu số 0002621 ngày 26/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo cho các bên đương sự.
Ngày 06/9/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Thanh T1 có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 105/2024/DS-ST ngày 14-8-2024 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Ngày 16/9/2024, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 45/QĐKN-VKS-DS đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 105/2024/DS-ST ngày 14-8-2024 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng vì cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập hồ sơ đăng ký sang tên của bà T tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện D xác minh, thu thập chứng cứ không đầy đủ; tuyên án chưa đầy đủ xâm phạm đến quyền lợi của Nhà nước, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Đỗ Thanh T2 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo của ông T1, không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm, không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới và không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương thay đổi nội dung kháng nghị là đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm. Về hướng giải quyết vụ án, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương có ý kiến: quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: ngày 12/3/2025, Tòa án cấp phúc thẩm đã lập Biên bản xác minh, thu thập hồ sơ đăng ký sang tên đất của bà T tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện D để khắc phục thiếu sót đã nêu trong quyết định kháng nghị phúc thẩm nên việc hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại là không cần thiết; vì vậy, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng kiến nghị cơ quan Thuế và các cơ quan Nhà nước có liên quan tiến hành tính thuế hoặc truy thu thuế “lệ phí trước bạ nhà, đất; thuế thu nhập cá nhân chuyển nhượng bất động sản” đối với ông Lý V, bà Vương Xuân M, ông Lý Tấn P, bà Lý Mỹ Á và bà Trương Thị Như T theo giá thực tế hai bên thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất 5.500.000.000 đồng. Về kiến nghị khắc phục thiếu sót: không.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; ý kiến trình bày của các bên đương sự và quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về hướng giải quyết vụ án;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết, đây là vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về thủ tục, do bà M, bà Á và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; ông P đã được Tòa án cấp sơ thẩm triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng vắng mặt nên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử vắng mặt họ là đúng quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ Luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét đơn kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh T1 (gọi tắt là ông T1) và Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 45/QĐKN-VKS-DS ngày 16/9/2024 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương được thực hiện trong thời hạn luật định, người kháng cáo đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên hợp lệ.
[3] Về nội dung: theo đơn khởi kiện ngày 29/11/2023, bà Trương Thị Như T (gọi tắt là bà T) yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở số công chứng 01981, quyển số 04/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 14/4/2023 của Văn phòng C, tỉnh Bình Dương giữa ông Lý V, bà Vương Xuân M, ông Lý Tấn P, bà Lý Mỹ Á với bà Trương Thị Như T; công nhận cho bà T được quyền quản lý, sử dụng phần đất theo đo đạc thực tế diện tích 60,9m² cùng tài sản gắn liền với đất là căn nhà cấp 3 thuộc thửa đất số 67, tờ bản đồ số 90, tọa lạc tại khu phố B, thị trấn D, huyện D theo quy định của pháp luật (bút lục 14-19), vì cho rằng: ngày 14/4/2023, ông Lý V, bà Vương Xuân M, ông Lý Tấn P, bà Lý Mỹ Á đến Văn phòng C, tỉnh Bình Dương ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở theo số công chứng nêu trên để chuyển nhượng cho bà Trương Thị Như T phần đất diện tích 60,9m² cùng tài sản gắn liền với đất là căn nhà cấp 3, thuộc thửa đất số 67, tờ bản đồ số 90, tọa lạc tại khu phố B, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02371 QSDĐ ngày 10/12/2002 và Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở số 747202577700103 ngày 16/3/2009 với giá chuyển nhượng là 5.500.000.000 đồng; hai bên thỏa thuận bằng lời nói về phương thức thanh toán như sau: bà T đưa cho gia đình ông V số tiền mặt là 3.100.000.000 đồng và bà T chuyển nhượng cho gia đình ông V, bà M diện tích đất ngang 8m x dài 31m, thuộc thửa đất số 1422 (thửa gốc số 871), tờ bản đồ số 23, tọa lạc tại khu phố G, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương do bà T và bà Lê Thị Hải L đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với giá chuyển nhượng 2.400.000.000 đồng; chứng cứ mà bà T cung cấp để chứng minh là Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở số công chứng 01985, quyển số 04/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 14/4/2023 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS13086 ngày 16/5/2023 do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện D cấp cho bà Vương Xuân M (vợ ông V) với diện tích 258,6m² (bút lục 60-66). Sau khi chuyển nhượng, gia đình ông V đã giao nhà và đất cho bà T quản lý, sử dụng từ ngày 14/4/2023 cho đến nay; tuy nhiên, khi bà T nộp hồ sơ kê khai, đăng ký sang tên thửa đất số 67, tờ bản đồ số 90 theo Biên nhận hồ sơ ngày 19/4/2023 (bút lục 25), nhưng bị ngăn chặn nên bà T chưa thực hiện xong thủ tục sang tên qua bà T.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của bà T và yêu cầu kháng cáo của ông T1, nhận thấy: quá trình giải quyết vụ án, ông Lý V, bà Vương Xuân M, bà Lý Mỹ Á thừa nhận đã đến Văn phòng C, tỉnh Bình Dương ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở số công chứng 01985, quyển số 04/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 14/4/2023 để chuyển nhượng cho bà Trương Thị Như T phần đất diện tích theo đo đạc thực tế là 60,9m², thuộc thửa đất số 67, tờ bản đồ số 90, tọa lạc tại khu phố B, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương với giá chuyển nhượng 5.500.000.000 đồng. Bà T đã giao đủ tiền cho gia đình ông V và gia đình ông V đã giao nhà và đất cho bà T quản lý, sử dụng từ ngày 14/4/2023; qua yêu cầu khởi kiện của bà T, gia đình ông V đồng ý nên có cơ sở xác định việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở nêu tại mục [3] là hoàn toàn có thật và theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây được xem là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh.
[5] Thời điểm các bên thỏa thuận ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở, hộ ông Lý V đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà đối với thửa đất số 67, tờ bản đồ số 90, tọa lạc tại khu phố B, thị trấn D, huyện D; đất không có tranh chấp, không bị kê biên để đảm bảo thi hành án nên ông V, bà M, ông P, bà Á được quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định tại các Điều 167, 188 của Luật Đất đai năm 2013; việc bà T nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ ông V là ngay tình; chủ thể tham gia ký kết hợp đồng có đủ năng lực pháp luật dân sự và không bị ai ép buộc; hình thức, nội dung và mục đích giao dịch phù hợp với quy định tại các Điều 116, 117, 500, 501, 502, 503 của Bộ luật Dân sự, không trái đạo đức xã hội nên phát sinh hiệu lực. Mặt khác, Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng thụ lý đơn khởi kiện của ông Nguyễn Thanh T1 là theo Hợp đồng mượn nợ ngày 06/7/2023 và ban hành Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 18/2023/QĐ-BPKCTT về việc “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” là ngày 16/11/2023 (bút lục 23-24) và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng ban hành Quyết định số 26/QĐ-CCTHADS về việc tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản đối với thửa đất số 67, tờ bản đồ số 90, tại thị trấn D, huyện D ngày 30/11/2023 (bút lục 69); thời điểm này, ông V, bà M, ông P, bà Á đã chuyển nhượng đất và nhà cho bà T nên việc ông T1 kháng cáo cho rằng: ông V thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà T là nhằm tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án đối với ông T1, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là không có căn cứ.
[6] Theo như đã nêu tại mục [4] thì giá chuyển nhượng thửa đất số 67, tờ bản đồ số 90 được hai bên thỏa thuận là 5.500.000.000 đồng, nhưng tại khoản 1 Điều 2 của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở số công chứng 01981, quyển số 04/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 14/4/2023 lại ghi giá chuyển nhượng 300.000.000 đồng là không đúng với giá thực tế hại bên đã thỏa thuận chuyển nhượng và có dấu hiệu trốn tránh thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 124 của Bộ luật Dân sự, xác định thỏa thuận tại khoản 1 Điều 2 của Hợp đồng vô hiệu do giả tạo là có căn cứ. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm không kiến nghị cơ quan Thuế và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tính thuế “lệ phí trước bạ nhà, đất; thuế thu nhập cá nhân chuyển nhượng bất động sản” theo quy định của pháp luật đối với ông Lý V, bà Vương Xuân M, ông Lý Tấn P, bà Lý Mỹ Á và bà Trương Thị Như T theo giá thực tế hai bên thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất là không đúng, làm thất thoát thuế của Nhà nước nên kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về phần này là có căn cứ.
[7] Ngoài ra, về án phí dân sự sơ thẩm: bà T khởi kiện 04 bị đơn là ông Lý V, bà Vương Xuân M, ông Lý Tấn P và bà Lý Mỹ Á, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại tuyên buộc “ông Lý V, bà Vương Xuân M, ông Lý Tấn P, bà Lý Mỹ Á phải chịu 300.000 đồng” là không đúng quy định tại điểm a khoản 3 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm cần sửa lại cho phù hợp.
[8] Từ những phân tích và lập luận nêu trên, Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh T1; chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 45/QĐKN-VKS-DS ngày 16/9/2024 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương và ý kiến thay đổi một phần quyết định kháng nghị phúc thẩm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tại phiên tòa phúc thẩm, sửa một phần bản án sơ thẩm về phần án phí dân sự sơ thẩm và kiến nghị cơ quan Thuế cùng các cơ quan Nhà nước có liên quan tiến hành tính thuế “lệ phí trước bạ nhà, đất; thuế thu nhập cá nhân chuyển nhượng bất động sản” đối với ông Lý V, bà Vương Xuân M, ông Lý Tấn P, bà Lý Mỹ Á và bà Trương Thị Như T theo quy định của pháp luật theo giá thực tế hai bên thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở là 5.500.000.000 đồng. Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về hướng giải quyết vụ án là có căn cứ.
[9] Về án phí dân sự phúc thẩm: do Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm nên ông Nguyễn Thanh T1 không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 148, khoản 2 Điều 308, Điều 309 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh T1.
- Chấp nhận một phần nội dung Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 45/QĐKN-VKS-DS ngày 16/9/2024 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương, sửa một phần Bản án số 105/2024/DS-ST ngày 14-8-2024 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương như sau:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 266, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 116, 117, 500, 501, 502, 503 của Bộ luật Dân sự; các Điều 166, 167, 168, 169, 188 của Luật Đất đai năm 2013; các Điều 8, 9, 12 của Luật nhà ở năm 2014 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- 1.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện “tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở” của bà Trương Thị Như T đối với ông Lý V, bà Vương Xuân M, ông Lý Tấn P, bà Lý Mỹ Á.
Công nhận hiệu lực của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở số công chứng 01981, quyển số 04/2023 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C công chứng ngày 14/4/2023 giữa bà Trương Thị Như T với ông Lý V, bà Vương Xuân M, ông Lý Tấn P, bà Lý Mỹ Á đối với phần đất diện tích 60,9m², thuộc thửa đất số 67, tờ bản đồ số 90, tọa lạc tại khu phố B, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương và căn nhà cấp 3 gắn liền trên đất (trừ thỏa thuận tại điểm 1 Điều 2 của Hợp đồng) với giá chuyển nhượng thực tế là 5.500.000.000 đồng.
Bà Trương Thị Như T được quyền quản lý, sử dụng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nêu trên (Theo Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 189-2024 ngày 10/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện D). Bà Trương Thị Như T được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai, đăng ký xin cấp giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật.
- 1.2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện “tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở” của bà Trương Thị Như T đối với ông Lý V, bà Vương Xuân M, ông Lý Tấn P, bà Lý Mỹ Á.
Tuyên thỏa thuận tại điểm 1 Điều 2 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở số công chứng 01981, quyển số 04/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 14/4/2023 tại Văn phòng C với nội dung ghi giá chuyển nhượng 300.000.000 đồng là vô hiệu.
Kiến nghị cơ quan Thuế cùng các cơ quan Nhà nước có liên quan tiến hành tính thuế “lệ phí trước bạ nhà, đất; thuế thu nhập cá nhân chuyển nhượng bất động sản” đối với ông Lý V, bà Vương Xuân M, ông Lý Tấn P, bà Lý Mỹ Á và bà Trương Thị Như T theo quy định của pháp luật với giá thực tế hai bên thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở là 5.500.000.000 đồng.
- 1.3. Về chi phí đo đạc 2.846.184 đồng và chi phí định giá 1.000.000 đồng; tổng cộng là 3.846.184 đồng bà Trương Thị Như T đã nộp, ông Lý V, bà Vương Xuân M, ông Lý Tấn P và bà Lý Mỹ Á phải có trách nhiệm nộp lại để hoàn trả cho bà Trương Thị Như T.
- 1.4. Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Lý V, bà Vương Xuân M, ông Lý Tấn P, bà Lý Mỹ Á mỗi người phải chịu 300.000 đồng.
Bà Trương Thị Như T không phải chịu. Hoàn trả lại cho bà Trương Thị Như T số tiền 600.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002435 ngày 07/12/2023 và Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002621 ngày 26/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- 1.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện “tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở” của bà Trương Thị Như T đối với ông Lý V, bà Vương Xuân M, ông Lý Tấn P, bà Lý Mỹ Á.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Nguyễn Thanh T1 không phải chịu. Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Thanh T1 số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000422 ngày 05/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đắc Cường |
Bản án số 182/2025/DS-PT ngày 24/03/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở
- Số bản án: 182/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở
